Ngày 17/01/2019 12:00 AM
Ngày 17/01/2019 12:00 AM
Ý kiến người dân
Dùng công nghệ kiểm soát tài sản cán bộ: Vẫn lo

Có thể dùng công nghệ để quản lý biến động tài sản cán bộ nhưng sự quản lý ấy vẫn phải dựa trên bản khai gốc của cán bộ, công chức. 

Đổi mới quản lý nguồn nhân lực trong khu vực công ở Việt Nam

1. Thực trạng nguồn nhân lực trong khu vực công hiện nay

1.1. Về số lượng, chất lượng                      

a) Về số lượng: hiện nay, số lượng thứ trưởng và tương đương của các bộ, ngành ở Việt Nam là 101; người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu các cơ quan thuộc Chính phủ là 35 (1); cán bộ, công chức (CBCC) từ cấp huyện trở lên là 323.349 (2). Tổng số CBCC cấp xã của 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tính đến năm 2014 là 235.384 người; trong đó, cán bộ cấp xã là 118.067, công chức cấp xã là 117.317 (3); viên chức làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập là 1.834.111 (4).

b) Về chất lượng: phần lớn CBCC, viên chức đã được đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ theo tiêu chuẩn; có tinh thần, thái độ tích cực học hỏi, đổi mới tư duy, tiếp cận với những yêu cầu mới trong quản lý và phục vụ Nhân dân, hoàn thành nhiệm vụ chuyên môn, góp phần tích cực thực hiện mục tiêu ổn định chính trị, phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, về cơ bản năng lực và trình độ của đội ngũ CBCC, viên chức vẫn chưa ngang tầm với yêu cầu đặt ra; thiếu kiến thức, kỹ năng quản lý nhà nước, pháp luật, ngoại ngữ, tin học và kỹ năng hành chính; cơ cấu trình độ thiếu cân đối và chưa được xác định rõ ràng, hợp lý.

CBCC, viên chức giữ chức vụ lãnh đạo chủ chốt, đặc biệt là lực lượng chuyên gia đầu ngành vừa hẫng hụt, vừa thiếu đồng bộ, tuổi đời bình quân cao. CBCC, viên chức trẻ có kiến thức, trình độ học vấn cao, nhưng thiếu kinh nghiệm, chậm được phát hiện và đào tạo, bồi dưỡng để đề bạt, bổ nhiệm vào các vị trí tương xứng. Đội ngũ CBCC, viên chức có trình độ cao phân bố không đều, chủ yếu tập trung ở các đô thị lớn.

1.2. Về quản lý nguồn nhân lực trong khu vực công

a) Về công tác quy hoạch: Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản quan trọng như Nghị quyết số 42-NQ/TW ngày 30/11/2004 về công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; Kết luận số 24-KL/TW ngày 05/6/2012 về đẩy mạnh công tác quy hoạch và luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý đến năm 2020 và những năm tiếp theo; Kết luận số 64-KL/TW ngày 28/5/2013 về một số vấn đề tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở; Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 17/4/2015 về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; Nghị quyết số 19-NQ/TW về tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập.

Thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước đã thể chế hóa thành các văn bản quy phạm pháp luật, như Nghị định số 108/2014/NĐ-CP ngày 20/11/2014 về chính sách tinh giản biên chế; Quyết định số 2218/QĐ-TTg ngày 10/12/2015 của Thủ tướng Chính phủ về Kế hoạch của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 39-NQ/TW; Chỉ thị số 02/CT-TTg ngày 06/01/2017 của Thủ tướng Chính phủ về việc đẩy mạnh chủ trương tinh giản biên chế; Quyết định số 579/QĐ-TTg ngày 19/4/2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển nhân lực Việt Nam thời kỳ 2011 - 2020; Quyết định số 1216/QĐ-TTg ngày 22/7/2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020…, trong đó có nhiều nội dung quan trọng về quy hoạch đội ngũ CBCC, viên chức(5). Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 - 2020 do Chính phủ ban hành đã nhấn mạnh phải xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC, viên chức. Trên cơ sở đó, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1557/QĐ-TTg ngày 18/10/2013 về việc phê duyệt Đề án “Đẩy mạnh cải cách chế độ công vụ, công chức” với mục tiêu xây dựng nền công vụ “Chuyên nghiệp, trách nhiệm, năng động, minh bạch, hiệu quả”.

Chính phủ đã xác định các giải pháp trọng tâm, trọng điểm để thực hiện có hiệu quả công tác quy hoạch đội ngũ CBCC, viên chức là: đổi mới và nâng cao nhận thức về vai trò của phát triển nhân lực đối với phát triển bền vững đất nước; đổi mới quản lý nhà nước về phát triển nhân lực; đổi mới đào tạo và dạy nghề theo hướng hiện đại, phù hợp với hoàn cảnh của Việt Nam, đáp ứng nhu cầu phát triển đất nước và hội nhập quốc tế; đảm bảo vốn cho phát triển nhân lực; đẩy mạnh hợp tác quốc tế để phát triển nhân lực. Trên cơ sở đó, các bộ, ngành, địa phương đã ban hành quy hoạch phát triển nhân lực phù hợp với quy hoạch chung và của bộ, ngành, địa phương. Trên thực tế, công tác quy hoạch đội ngũ CBCC, viên chức ở nước ta đã được tiến hành đúng nguyên tắc, tiêu chuẩn; được rà soát thường xuyên để bổ sung, điều chỉnh hàng năm theo sát sự phát triển của CBCC, viên chức; có sự kế thừa, bổ sung, điều chỉnh, tiếp tục khẳng định những nhân tố tích cực.

Tuy nhiên, việc xây dựng và thực hiện quy hoạch ở một số địa phương, đơn vị chưa căn cứ vào kết quả đánh giá cán bộ, yêu cầu nhiệm vụ và năng lực thực tiễn của cán bộ, chưa gắn quy hoạch với đào tạo, bố trí, sử dụng cán bộ, dẫn đến nhiều đề án quy hoạch thiếu tính khả thi. Chất lượng quy hoạch cán bộ chưa cao, chưa đồng đều và hầu hết chưa có tầm nhìn xa, chưa bảo đảm cơ cấu 3 độ tuổi. Cơ cấu cán bộ chưa cân đối, ít cán bộ trẻ, cán bộ nữ; trình độ, ngành nghề đào tạo nhiều nơi chưa phù hợp, chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ. Một số nơi thực hiện luân chuyển, đào tạo cán bộ chưa dựa trên cơ sở đánh giá và quy hoạch.

b) Về thu hút, tạo nguồn: để thu hút những người có tài năng, kinh nghiệm công tác vào làm việc trong khu vực công, Chính phủ đã có quy định về việc xét tuyển đặc cách đối với những người tốt nghiệp thủ khoa, tốt nghiệp loại giỏi, xuất sắc ở nước ngoài hoặc có kinh nghiệm công tác từ 05 năm trở lên, đáp ứng được ngay yêu cầu của vị trí việc làm cần tuyển dụng; ban hành Nghị quyết phê duyệt Đề án thu hút, tạo nguồn cán bộ từ sinh viên tốt nghiệp xuất sắc, cán bộ khoa học trẻ giai đoạn 2014 - 2020 và Nghị định về chính sách thu hút, tạo nguồn cán bộ từ sinh viên tốt nghiệp xuất sắc, cán bộ khoa học trẻ.

c) Về tuyển dụng: trên cơ sở quy định của pháp luật CBCC, viên chức, các bộ, ngành, địa phương đã có văn bản cụ thể hoá phù hợp với đặc điểm, tình hình thực tế; một số nơi quy định thêm chính sách đặc thù nhằm thu hút người có năng lực và trình độ cao. Việc phân cấp thẩm quyền tuyển dụng đã từng bước gắn với thẩm quyền sử dụng, tạo tiền đề cho việc tổ chức tuyển dụng gắn với vị trí việc làm. Đã đổi mới phương thức tuyển dụng thông qua việc tổ chức thi trên máy vi tính để đảm bảo nguyên tắc khách quan, công bằng, minh bạch, chất lượng.

Tuy nhiên, một số bộ, ngành, địa phương còn lúng túng khi thực hiện các nội dung mới trong tuyển dụng CBCC, viên chức; một số bộ, ngành, địa phương còn phân biệt văn bằng và loại hình đào tạo; Bộ Nội vụ đã có văn bản yêu cầu thực hiện đúng quy định.

d) Về công tác đánh giá: Chính phủ đã ban hành Nghị định số 56/2015/NĐ-CP về đánh giá và phân loại cán bộ, công chức, viên chức (được sửa đổi, bổ sung bằng Nghị định số 88/2017/NĐ-CP ngày 27/7/2017), đã quy định tiêu chí riêng để đánh giá, phân loại đối với CBCC, viên chức. Tuy nhiên, nội dung này vẫn được xác định là một khâu khó và yếu, chậm được khắc phục.

đ) Về công tác luân chuyển, bổ nhiệm: công tác luân chuyển được thực hiện đúng quy định của Đảng, Nhà nước và có kế hoạch cụ thể, phù hợp với đặc điểm tình hình của từng bộ, ngành, địa phương. Công tác bổ nhiệm công chức, viên chức lãnh đạo, quản lý được thực hiện dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, góp phần đổi mới công tác cán bộ và nâng cao chất lượng đội ngũ công chức, viên chức lãnh đạo, quản lý trong thời kỳ mới.

Đã triển khai thực hiện đổi mới phương thức tuyển chọn lãnh đạo, quản lý thông qua phương thức thi tuyển nhằm phát hiện, thu hút, trọng dụng những người có đức, có tài; tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, từng bước đổi mới quy trình bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo, quản lý, tránh tình trạng cục bộ, khép kín.

e) Về chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức: đã được thực hiện theo quy định của pháp luật về đãi ngộ, nâng lương, nâng ngạch, bổ nhiệm, khen thưởng..., có tác dụng động viên tinh thần và trách nhiệm của CBCC, viên chức, thể hiện chủ yếu ở chính sách tiền lương tối thiểu, hệ thống thang bảng lương và cơ chế trả lương. Việc trả lương cho CBCC, viên chức hiện nay được thực hiện theo ngạch, bậc, mỗi bậc tương ứng với một bậc lương.

Tuy nhiên, việc nâng bậc lương và nâng ngạch công chức, thăng hạng viên chức được áp dụng theo thâm niên công tác và chủ yếu dựa trên cơ sở văn bằng, chứng chỉ; hiệu quả công việc chưa hoàn toàn là thước đo năng lực và xác định mức lương, khen thưởng và kỷ luật. Vì vậy, cần tiếp tục nghiên cứu và ban hành các cơ chế khuyến khích, đãi ngộ phù hợp để CBCC, viên chức ổn định cuộc sống, yên tâm công tác, tích cực lao động sáng tạo.

2. Một số giải pháp đổi mới công tác quản lý nguồn nhân lực trong khu vực công thời gian tới

2.1. Nâng cao năng lực, hiệu lực và hiệu quả hoạt động của bộ máy quản lý nhà nước về công tác tổ chức và cán bộ

Hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với nguồn nhân lực trong khu vực công phụ thuộc rất lớn vào năng lực, hiệu lực và hiệu quả hoạt động của bộ máy quản lý nhà nước về công tác tổ chức và cán bộ. Do đó, cần quan tâm chỉ đạo, xây dựng, kiện toàn về tổ chức bộ máy, đội ngũ và chế độ, chính sách đãi ngộ, như chỉ đạo của Chính phủ tại Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 03/01/2012: “Chú trọng phát triển nhân lực ngành tổ chức nhà nước tại các bộ, ngành và địa phương; kiện toàn tổ chức các đơn vị và đội ngũ làm công tác dự báo; chế độ tuyển dụng, sử dụng và đãi ngộ đối với đội ngũ công chức làm công tác dự báo”. Vì vậy, trong những năm qua, hệ thống các cơ quan làm công tác tổ chức và cán bộ tại các bộ, ngành, địa phương đã đạt được nhiều kết quả quan trọng trong tổ chức và hoạt động, hoàn thành tốt nhiệm vụ được Đảng và Nhà nước giao. Song, cần tiếp tục thực hiện một số giải pháp sau đây:

Thứ nhất, phát triển đội ngũ công chức làm công tác tổ chức và cán bộ tại các bộ, ngành, địa phương đảm bảo đủ về số lượng, chất lượng và cơ cấu, có tính chuyên nghiệp cao để hoàn thành tốt chức năng tham mưu về công tác tổ chức và cán bộ nói chung; xây dựng, phát triển nguồn nhân lực trong khu vực công nói riêng. Có chính sách phù hợp để thu hút và đảm bảo sự ổn định của đội ngũ này.

Thứ hai, đề cao và phát huy vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan làm công tác tổ chức và cán bộ. Cần xây dựng, phát triển đội ngũ người đứng đầu các cơ quan này theo hướng ưu tiên lựa chọn những người có năng lực lãnh đạo, chuyên nghiệp, tâm huyết, trách nhiệm và có năng lực dự báo, hoạch định chính sách xây dựng, phát triển đội ngũ CBCC, viên chức.

Thứ ba, công tác tổ chức và cán bộ là công tác rất quan trọng, cho nên chế độ, chính sách đãi ngộ đối với những người làm công tác tổ chức và cán bộ tại các bộ, ngành, địa phương phải được ưu tiên, đảm bảo không bị các yếu tố bên ngoài tác động, chi phối đến quá trình thực hiện công việc.

Thứ tư, ưu tiên kiện toàn đội ngũ công chức lãnh đạo, quản lý công tác tổ chức và cán bộ ở các cơ quan nhà nước các cấp; chú trọng bồi dưỡng nâng cao năng lực của đội ngũ này trong xây dựng, phát triển nguồn nhân lực khu vực công. Đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước đã nhấn mạnh đến vai trò của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị; tuy nhiên, năng lực lãnh đạo, bản lĩnh, tinh thần trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan quản lý CBCC, viên chức là yếu tố quyết định, thể hiện ở sự cương quyết, nắm vững quá trình và kết quả thực hiện nhiệm vụ của cấp dưới, dám nhận xét góp ý về hạn chế của cấp dưới; đặc biệt là dám chịu trách nhiệm về kết quả đánh giá, không ngại va chạm, né tránh khi đánh giá cấp dưới.

2.2. Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao trình độ, năng lực chuyên môn cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức

Yêu cầu mới của giai đoạn hiện nay đặt ra phải: “Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức. Đổi mới phương thức, nội dung các chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức sát với thực tế, hướng vào các vấn đề thiết thực đặt ra từ quá trình thực thi công vụ, nâng cao kỹ năng hành chính. Thông qua đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ và kỹ năng hành chính đảm bảo tính thống nhất trong hoạt động của cơ quan hành chính, nhất là trong giải quyết các yêu cầu của Nhân dân, doanh nghiệp...”(6). Do đó, cần phải thực hiện một số giải pháp sau:

Thứ nhất, cần chuyển từ đào tạo, bồi dưỡng theo tiêu chuẩn ngạch công chức, chức danh nghề nghiệp viên chức sang đào tạo, bồi dưỡng theo nhu cầu công việc và vị trí việc làm để công chức, viên chức có đủ năng lực, kiến thức, kỹ năng đáp ứng yêu cầu vị trí đảm nhiệm. Kết quả phê duyệt đề án xác định vị trí việc làm và danh mục vị trí việc làm, cơ cấu ngạch công chức của các bộ, ngành Trung ương và 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là cơ sở quan trọng để tổ chức đào tạo, bồi dưỡng theo nhu cầu công việc và vị trí việc làm đối với công chức; để đội ngũ CBCC, viên chức không bị động, lúng túng trong thực thi công vụ và hoạt động nghề nghiệp.

Thứ hai, trên cơ sở các quy định hiện hành về đào tạo, bồi dưỡng công chức, nhất là Đề án “Chiến lược đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức giai đoạn 2011 - 2020” đã được phê duyệt tại Nghị quyết số 30c/NQ-CP, cần giao quyền chủ động nhiều hơn cho các bộ, ngành và địa phương trong tổ chức đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ CBCC, viên chức đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế thị trường và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nhất là trong bối cảnh hội nhập quốc tế và cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra mạnh mẽ.

Thứ ba, xây dựng cơ chế tổ chức đào tạo, bồi dưỡng linh hoạt, tạo điều kiện để cơ quan, đơn vị quản lý, sử dụng và mỗi CBCC, viên chức có cơ hội được lựa chọn dịch vụ đào tạo, bồi dưỡng có chất lượng; đồng thời, để các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng chủ động nâng cao năng lực và chất lượng đào tạo, bồi dưỡng đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn mới. Xây dựng và triển khai kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cần tập trung vào các đối tượng là nhân lực công ở tầm chuyên gia hoạch định chính sách, CBCC, viên chức thừa hành và CBCC cấp cơ sở; nâng cao tinh thần trách nhiệm, đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp.

Chú trọng việc đào tạo, bồi dưỡng ở trong nước, đồng thời cử CBCC, viên chức trong diện quy hoạch nguồn đi đào tạo, bồi dưỡng ở các quốc gia có nhiều kinh nghiệm tốt trong lĩnh vực này nhằm tận dụng, khai thác thế mạnh về đào tạo kiến thức chuyên môn sâu với kỹ năng sử dụng ngoại ngữ.

2.3. Đổi mới chế độ, chính sách đãi ngộ đối với đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức

Về chính sách tiền lương: cần nghiên cứu xây dựng và thực hiện đề án cải cách cơ bản chính sách tiền lương nhằm điều chỉnh tiền lương bảo đảm mức sống của đội ngũ CBCC, viên chức tương ứng với nhịp độ tăng, giảm thu nhập trong xã hội. Cụ thể là:

Thứ nhất, ban hành danh mục vị trí việc làm và cơ cấu công chức, viên chức ở tất cả các cơ quan trong hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương để làm căn cứ tiến hành cải cách tiền lương theo vị trí việc làm. Bảo đảm mức lương phải tương đương với mức thu nhập khá ở khu vực ngoài công lập.

Thứ hai, cho phép các cơ quan, địa phương, ngành, lĩnh vực có điều kiện phát triển hơn được xác định mức lương tối thiểu riêng (bằng hoặc cao hơn mức lương tối thiểu chung do Nhà nước quy định) để trả lương cho đội ngũ CBCC, viên chức như với khu vực doanh nghiệp.

Thứ ba, xây dựng chế độ phụ cấp ưu đãi đối với đội ngũ CBCC, viên chức. Mức phụ cấp ưu đãi cần được phân ra thành: phụ cấp ưu đãi đối với hoạt động quản lý, điều hành và phụ cấp ưu đãi đối với hoạt động nghiên cứu, tham mưu xây dựng chính sách, chiến lược.

Thứ tư, đội ngũ CBCC, viên chức có tài năng ngoài việc được nâng lương theo thâm niên như quy định, còn được thực hiện một số chế độ nâng lương như nâng lương trước thời hạn và nâng lương vượt bậc nếu có thành tích và công trạng mà không khống chế tỷ lệ phần trăm như hiện nay.

Thứ năm, đội ngũ CBCC, viên chức công tác ở các vùng khó khăn, kinh tế kém phát triển, hoặc độc hại, nguy hiểm thì được hưởng phụ cấp công tác và một khoản tiền hỗ trợ khó khăn tính theo tháng ngoài việc hưởng phụ cấp lưu trú.

Thứ sáu, giao cho người đứng đầu được quyền quyết định mức tiền thưởng đột xuất cho đội ngũ CBCC, viên chức dưới quyền khi được đánh giá và xếp loại hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, công vụ.

Về chính sách vinh danh và khen thưởng đối với CBCC, viên chức có thành tích xuất sắc trong thực thi nhiệm vụ, công vụ: nghiên cứu xây dựng, ban hành quy định mới về danh hiệu vinh dự nghề nghiệp đối với CBCC, viên chức có thành tích và cống hiến, có công trạng; đồng thời sửa đổi, bổ sung quy định về hình thức khen thưởng và mức thưởng kèm theo đảm bảo tương xứng giữa khen và thưởng với kết quả, hiệu quả hoàn thành nhiệm vụ, với thành tích và cống hiến của công chức.

2.4. Đổi mới công tác khen thưởng, tôn vinh các giá trị nghề nghiệp, tính chuyên nghiệp, tính tích cực nghề nghiệp của cán bộ, công chức, viên chức

Khen thưởng, tôn vinh các giá trị nghề nghiệp, tính chuyên nghiệp, tính tích cực nghề nghiệp của CBCC, viên chức cần được quy định là nội dung bắt buộc trong quá trình xây dựng và thực hiện chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước về xây dựng, phát triển đội ngũ CBCC, viên chức.

Cần xác định đúng, đầy đủ các chế độ, chính sách khen thưởng, tôn vinh các giá trị nghề nghiệp, tính chuyên nghiệp, tính tích cực nghề nghiệp của CBCC, viên chức mà họ cần phải có để đáp ứng đầy đủ các yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng đội ngũ CBCC, viên chức có cơ cấu hợp lý, đủ về số lượng, vững vàng về trình độ và năng lực chuyên môn, say mê, tâm huyết với nghề nghiệp và đề cao trách nhiệm trong thực thi nhiệm vụ, công vụ.

Đổi mới toàn diện và đồng bộ chính sách khen thưởng, tôn vinh và các cơ chế, chính sách liên quan để phát huy, phát triển tốt năng lực nội sinh của đội ngũ CBCC, viên chức vì sự phát triển bền vững của đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Xây dựng chính sách khen thưởng, tôn vinh các giá trị nghề nghiệp, tính chuyên nghiệp, tính tích cực nghề nghiệp của CBCC, viên chức trong các cơ quan hành chính như đối với nguồn nhân lực có chất lượng cao đã được Đảng đề ra: “Xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực cho đất nước, cho từng ngành, từng lĩnh vực, với những giải pháp đồng bộ”(7).

Đổi mới phương pháp đánh giá công chức để có biện pháp sử dụng, trọng dụng, khen thưởng, tôn vinh các giá trị nghề nghiệp, tính chuyên nghiệp, tính tích cực nghề nghiệp của CBCC, viên chức. Ban hành các tiêu chí, tiêu chuẩn thống nhất để khen thưởng, tôn vinh giá trị nghề nghiệp, tính chuyên nghiệp, tính tích cực nghề nghiệp của đội ngũ CBCC, viên chức, đặc biệt là chuyên gia đầu ngành trong các lĩnh vực quản lý nhà nước, trước hết là đội ngũ chuyên gia đầu ngành của một số lĩnh vực quản lý nhà nước trọng điểm, chủ chốt, trực tiếp làm nhiệm vụ nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, dự báo xu hướng phát triển, cung cấp luận cứ khoa học cho việc xây dựng đường lối, chính sách phát triển đất nước./.

PGS. TS. Triệu Văn Cường - Thứ trưởng Bộ Nội vụ

“Lò to, gió lớn, nắng hanh – Củi tươi, củi mục tất thành tro than!”

Như mong đợi của Nhân dân, chỉ ít ngày sau khi nhậm chức Chủ tịch nước, “lò” chống tham nhũng của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng lại rừng rực cháy ở cả ba miền đất nước.

Hoàn thiện pháp luật hành chính trong thời kỳ hội nhập và toàn cầu hóa

Trước yêu cầu của thời kỳ hội nhập và toàn cầu hóa, Nhà nước cần đổi mới cách thức điều hành để đáp ứng mục tiêu xây dựng một nền hành chính phục vụ, theo đó, pháp luật điều chỉnh hoạt động quản lý hành chính cần phải thay đổi, hoàn thiện để đáp ứng với những yêu cầu mới. Việc nghiên cứu phương hướng hoàn thiện pháp luật hiện hành có ý nghĩa trong việc xác định nhiệm vụ cụ thể trong chương trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật của Nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay.

1. Những vấn đề lý luận về quản lý hành chính nhà nước trong thời kỳ hội nhập và toàn cầu hóa

1.1. Quản lý hành chính nhà nước mới

Nền hành chính được thiết lập ở mỗi quốc gia để thực hiện chức năng quản lý hành chính của nhà nước (hành chính công) và thường bao gồm các yếu tố hợp thành: tổ chức bộ máy, nguồn nhân lực, nguồn tài chính và các thiết chế để điều chỉnh hoạt động của bộ máy đó.

Cải cách hành chính lần đầu được đề cập vào những năm 1980 với những nghiên cứu về quản lý hành chính mới. Theo cuốn Tái cơ cấu Chính phủ (Reinterventing Govenment) đã phản ánh và chịu ảnh hưởng quan điểm cải cách của Mỹ và các quốc gia khác trong những năm 1980 và 1990, David Osborne và Ted Gaebler đã tổng kết các nguyên tắc và đặc điểm của quản lý hành chính mới, đó là: chính phủ kiến tạo nên “điều hành/định hướng hơn là can thiệp” và quản lý các dịch vụ được cung cấp hơn là việc luôn luôn cung cấp các dịch vụ trực tiếp (1).

Bước sang thế kỷ 21, toàn cầu hóa đã đem lại sự cạnh tranh mạnh mẽ hơn trong các doanh nghiệp và gây áp lực cho chính phủ để xây dựng các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội mà trong đó khối tư nhân có thể cạnh tranh hiệu quả hơn và người dân cũng có thể phát triển nguồn nhân lực của mình để hưởng lợi từ các hoạt động sản xuất(2). Hiện nay, việc đánh giá lại chức năng của nhà nước và đội ngũ cán bộ, công chức của các quốc gia xuất phát từ hai nguyên nhân: một là, toàn cầu hóa đòi hỏi chính phủ phải thay đổi và đáp ứng đối với những thay đổi nhanh chóng về kinh tế, xã hội, chính trị và xu hướng công nghệ quốc tế; hai là, việc gia tăng sự không hài lòng của người dân đối với chức năng của chính phủ và các dịch vụ do bộ máy hành chính cung cấp(3). Tuyên bố Thiên niên kỷ của Liên hợp quốc yêu cầu việc tôn trọng quyền con người, thúc đẩy dân chủ và quản trị công (bao gồm hoạt động quản lý hành chính hiệu lực và hiệu quả). Trong đó, quản trị tốt là điều kiện cần thiết để đạt được mục tiêu phát triển thiên niên kỷ (MDGs).

Xu hướng chung của các quốc gia là chuyển đổi nền hành chính cai trị sang nền hành chính phục vụ, thay đổi cách thức quản lý hành chính nhà nước từ “truyền thống” sang cách “quản lý mới”. Quản lý hành chính nhà nước mới lấy nguyện vọng cơ bản của quần chúng nhân dân làm mục tiêu hoạt động và mọi hoạt động luôn hướng đến phục vụ lợi ích cơ bản của đại đa số Nhân dân. Quản lý hành chính nhà nước mới hướng đến sự thay đổi mối quan hệ giữa nhà nước với người dân, chuyển đổi từ phương thức “cai trị” sang phương thức “phục vụ”, nghĩa là xây dựng nền hành chính phục vụ, trong đó Nhà nước phải quan tâm đến nhu cầu, mong muốn của người dân để không ngừng cải thiện, nâng cao chất lượng các dịch vụ công cho người dân, tổ chức. Chỉ số hài lòng của người dân, tổ chức về sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước là một tiêu chí để xây dựng nền hành chính phục vụ.

Có thể hiểu, quản lý hành chính nhà nước mới là thay đổi cách thức quản lý của nhà nước đối với người dân, lấy người dân làm trung tâm của hoạt động quản lý, vì lợi ích chung của người dân thông qua việc xây dựng nền hành chính phục vụ, bảo đảm sự công khai, minh bạch thông tin, hoạt động đối với người dân, tổ chức và có trách nhiệm giải trình đối với người dân, bảo đảm sự tham gia của người dân vào quá trình ban hành và thực hiện quyết định.

1.2. Đặc điểm cơ bản của quản lý hành chính nhà nước trong thời kỳ hội nhập

Cùng với quá trình hội nhập và toàn cầu hóa, quản lý hành chính trong thời kỳ này cần vận hành theo phương thức quản lý hành chính mới. Bên cạnh việc bảo đảm xây dựng nền hành chính phục vụ người dân, quản lý hành chính trong thời kỳ hội nhập và toàn cầu hóa phải đảm bảo các yêu cầu, nguyên tắc chung của hội nhập toàn cầu. Nền hành chính cần phải thay đổi phương thức quản lý và phục vụ, đảm bảo các nguyên tắc vận hành phù hợp với các chuẩn mực trong khu vực và quốc tế. Nhìn chung, hành chính công trong thời kỳ hội nhập có những đặc điểm cơ bản sau:

Thứ nhất, bộ máy hành chính tinh gọn, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả và tiết kiệm.

Bộ máy hành chính truyền thống được xây dựng theo mô hình hành chính thứ bậc (từ trên xuống) và hoạt động dựa trên nguyên tắc tập trung quyền lực. Bộ máy hành chính mang tính chất “mệnh lệnh và kiểm soát” là đặc điểm điển hình cho các hệ thống hành chính quan liêu trên khắp thế giới dưới chế độ thuộc địa(4). Bước sang thế kỷ 21, các nước hướng tới việc xây dựng mô hình nhà nước kiến tạo và phát triển, trong đó khẳng định vai trò quan trọng của nhà nước trong điều tiết nền kinh tế vĩ mô, đảm bảo sự cân bằng giữa sự can thiệp của nhà nước phù hợp với quy luật vận hành của nền kinh tế thị trường. Do đó, bộ máy hành chính cần được cải cách theo hướng hoạt động tinh gọn và hiệu quả, có sự tách biệt rõ giữa chức năng quản lý, điều hành với thực thi (can thiệp trực tiếp) vào nền kinh tế. Cần phải đẩy mạnh tính độc lập của các thiết chế hành chính trong bộ máy, tinh giản biên chế, phân định rõ cơ quan ban hành chính sách và cơ quan thực thi chính sách.

Thứ hai, đội ngũ công chức hành chính chuyên nghiệp.

Công chức là cấu thành quan trọng của bộ máy hành chính, góp phần quyết định hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính. Áp lực của toàn cầu hóa và hội nhập đòi hỏi đội ngũ công chức phải hoạt động chuyên nghiệp hơn, được trang bị các kiến thức, kỹ năng để thực thi công vụ một cách hiệu quả nhất. Vai trò chính của công chức là giúp công dân hiểu rõ và đáp ứng được các lợi ích chung của họ chứ không phải là kiểm soát hoặc chỉ đạo xã hội. Nói cách khác, người dân chính là những khách hàng mà công chức cần phải phục vụ một cách chuyên nghiệp.

Thứ ba, thủ tục hành chính đơn giản, tiết kiệm và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin.

Cùng với yêu cầu cải cách hành chính, đơn giản hóa thủ tục hành chính, bảo đảm tính khả thi, hợp lý với chi phí thấp nhất là một trong những yêu cầu của xây dựng và ban hành thủ tục hành chính trong thời kỳ hội nhập. Điều đó đòi hỏi tính liên thông, kết nối cao và đặc biệt là sự ứng dụng công nghệ thông tin vào thực hiện thủ tục hành chính, ví dụ như thủ tục cấp thị thực, thủ tục hải quan trực tuyến.

Thứ tư, đẩy mạnh xã hội hóa và tăng cường hợp tác công tư, nâng cao chất lượng quản lý và cung cấp dịch vụ công.

Bộ máy hành chính là sản phẩm của trí tuệ, được xây dựng dựa trên quan điểm nhà nước được thành lập để phục vụ người dân. Trong thời kỳ xây dựng nền kinh tế thị trường, nhà nước cần phải tập trung hơn vào việc xây dựng, điều hành thông qua ban hành các chủ trương, chính sách chiến lược mang tầm vĩ mô (chính phủ kiến tạo) và giảm bớt sự can thiệp trực tiếp vào nền kinh tế. Cần phải khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia vào cung cấp các dịch vụ công, đẩy mạnh xã hội hóa và hợp tác công tư.

Thứ năm, bảo đảm sự tham gia của người dân, nâng cao trách nhiệm của cơ quan hành chính.

Học thuyết về quản lý hành chính mới được hình thành trên nền tảng về quyền công dân và lợi ích công cộng được thể hiện thông qua sự chia sẻ lợi ích của công dân hơn là lợi ích của những cá nhân do người dân bầu ra. Người dân phải được tham gia nhiều hơn vào quá trình ban hành chính sách và cơ quan hành chính nhà nước cần thực hiện nghĩa vụ giải trình của mình đối với các quyết định chính sách đã ban hành, trên cơ sở đảm bảo nguyên tắc về quyền lợi của người dân và lợi ích công.

2. Yêu cầu đối với pháp luật hành chính trong thời kỳ hội nhập

Toàn cầu hoá - sự chuyển đổi hướng tới sự tương tác, hội nhập và sự phụ thuộc lẫn nhau của người dân và các tổ chức xuyên biên giới - tăng cường giao dịch giữa các nước trong thương mại và đầu tư, trong các dòng vốn, con người, công nghệ và thông tin quốc tế. Toàn cầu hóa tạo ra các cơ hội mới về kinh tế nhưng cũng tạo ra các thách thức về chính trị, thể chế, công nghệ và xã hội, đặc biệt đối với người nghèo mà ở đó chính phủ phải giải quyết các vấn đề nhằm đảm bảo sự phát triển công bằng giữa kinh tế và xã hội(5). Cùng với việc đổi mới từ quản lý hành chính “truyền thống” sang quản lý hành chính nhà nước mới, mỗi quốc gia phải tiến hành đổi mới hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật hành chính nói riêng để phù hợp với cách thức quản lý hành chính nhà nước mới, đáp ứng yêu cầu hội nhập nói chung.

Nhu cầu để tăng cường quản lý hành chính và nâng cao năng lực của nhà nước trong việc thực hiện các chức năng và nhiệm vụ mới trong thời kỳ hội nhập và toàn cầu hóa đã được các quốc gia nhận thức rõ. Do đó, hoàn thiện về pháp luật hành chính trong thời kỳ hội nhập và toàn cầu hóa đều được các quốc gia chú trọng thực hiện. Trước tiên cần thay đổi vai trò của chính phủ trong việc hoạch định và kiểm soát nền kinh tế quốc gia, như là nhà cung cấp dịch vụ và hàng hóa chính, là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, phần lớn được xem là hiệu quả ở các nước muốn tăng cường khả năng cạnh tranh quốc gia. Để đáp ứng với nhu cầu của toàn cầu hóa, hàng loạt các quốc gia như Mỹ, New Zealand, Australia đã thực hiện học thuyết quản lý hành chính mới từ những năm 1980(6). Nói cách khác, toàn cầu hóa ảnh hưởng đến cả nhà nước và khối tư nhân. Nhà nước vẫn đóng vai trò quan trọng nhưng phải thay đổi cách thức thực hiện liên quan đến lợi ích công(7). Do đó, pháp luật hành chính cần được xây dựng trên các tiêu chí nền tảng như công bằng, minh bạch và sự tham gia của người dân. Pháp luật hành chính cũng cần được thiết lập để điều chỉnh các quan hệ giữa nhà nước với cá nhân, tổ chức dựa trên các nguyên tắc nhất định, đó là:

- Pháp luật hành chính phải đảm bảo sự công bằng: bản chất quan hệ hành chính giữa nhà nước với cá nhân là bất bình đẳng (quyền lực - phục tùng), như vậy yêu cầu về sự công bằng ở đây được hiểu là đảm bảo sự công bằng giữa mọi cá nhân, tổ chức tham gia trong mối quan hệ với nhà nước, trong việc trở thành công chức nhà nước, trong tiếp cận và sử dụng dịch vụ công.

- Pháp luật hành chính phải đảm bảo được yêu cầu công khai, minh bạch: công khai, minh bạch là yêu cầu quan trọng để kiểm soát tham nhũng, lạm quyền. Do đó, pháp luật cần quy định nghĩa vụ cung cấp thông tin về các chủ trương, chính sách của nhà nước trước khi ban hành các quyết định, chính sách quan trọng liên quan đến lợi ích của nhà nước, lợi ích cộng đồng và lợi ích của các cá nhân. Các quy định về thủ tục hành chính phải được đảm bảo công khai, minh bạch để người dân có thể dễ dàng tiếp cận, thực hiện các thủ tục hành chính một cách đơn giản, thuận tiện nhất.

- Pháp luật hành chính phải đảm bảo sự tham gia của người dân: nhà nước dân chủ là nhà nước đảm bảo người dân có quyền tham gia quyết định mọi vấn đề quan trọng của đất nước. Cụ thể là, người dân được tham gia vào quá trình ban hành các chính sách và quyết định một cách trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các tổ chức của mình. Pháp luật hành chính phải đảm bảo quyền tham gia cụ thể của người dân thông qua các hình thức: trưng cầu ý dân, đối thoại, giải trình, góp ý kiến phản biện xã hội vào các văn bản, chính sách quan trọng của nhà nước.

- Pháp luật hành chính phải kiểm soát được sự “thâu tóm” các cơ quan hành chính của các doanh nghiệp, các tập đoàn: hầu hết các văn bản pháp luật do cơ quan hành chính nhà nước ban hành có tác động lớn đến lợi ích của doanh nghiệp (chính sách thuế, đầu tư, kinh doanh...). Do đó, các cơ quan hành chính nhà nước có thể bị “thâu tóm” bởi các doanh nghiệp thông qua việc ban hành các chính sách, quyết định có lợi cho doanh nghiệp (lợi ích nhóm). Pháp luật hành chính phải hoàn thiện các quy định về nghĩa vụ giải trình của các cơ quan hành chính nhà nước trong việc ban hành các chính sách, quyết định cũng như mở rộng quyền tham gia của người dân, doanh nghiệp vào hoạt động ban hành quyết định, chính sách. Đồng thời, cần hạn chế sự ảnh hưởng của các doanh nghiệp, tập đoàn lớn đối với các cơ quan hành chính nhà nước để đảm bảo các cơ quan này ban hành các quyết định, chính sách vì lợi ích của nhà nước, lợi ích công.

3. Phương hướng hoàn thiện pháp luật hành chính

Đổi mới và hoàn thiện pháp luật hành chính là một trong những nhiệm vụ trọng tâm mà Đảng và Nhà nước ta đã đặt ra trong những năm qua. Nghị quyết số 17/NQ-TW ngày 01/8/2007 của Ban Chấp hành Trung ương về đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước đã nhận định: “Nền hành chính nhà nước vẫn còn nhiều hạn chế, yếu kém; cơ cấu tổ chức bộ máy còn cồng kềnh, chưa phù hợp; chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức chưa đáp ứng kịp yêu cầu; tình trạng quan liêu, tham nhũng, lãng phí còn nghiêm trọng; thủ tục hành chính còn nhiều vướng mắc, gây phiền hà cho tổ chức và công dân; kỷ luật, kỷ cương cán bộ, công chức chưa nghiêm; hiệu lực, hiệu quả của quản lý nhà nước còn nhiều yếu kém”(8). Để cụ thể hóa chủ trương của Đảng, Chính phủ đã có Nghị quyết số 30c/NQ-CP ngày 08/11/2011 ban hành tổng thể Chương trình cải cách hành chính giai đoạn 2011 - 2020, trong đó có các giải pháp về cải cách thể chế: “Xây dựng, hoàn thiện quy định của pháp luật về mối quan hệ giữa Nhà nước và Nhân dân, trọng tâm là bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, lấy ý kiến của Nhân dân trước khi quyết định các chủ trương, chính sách quan trọng và về quyền giám sát của Nhân dân đối với hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước”.

Đặc biệt là, để đảm bảo tuân thủ các cam kết của nước thành viên của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) và cộng đồng kinh tế ASEAN cũng như thực thi Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Nhà nước ta cần tập trung hoàn thiện pháp luật hành chính với những nội dung chủ yếu sau:

Thứ nhất, hoàn thiện pháp luật về tổ chức bộ máy hành chính nhà nước và đội ngũ cán bộ, công chức, đảm bảo xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu của hội nhập và toàn cầu hóa.

Hoàn thiện pháp luật về tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ, công chức cần tập trung vào những nội dung cơ bản sau:

- Pháp luật về phân cấp quản lý giữa trung ương và địa phương, trong đó xác định rõ mối quan hệ giữa chính quyền trung ương và chính quyền địa phương; giữa các cơ quan quản lý ngành ở trung ương với các cơ quan ở địa phương.

- Quy định rõ về ủy quyền, giao quyền trong các cơ quan hành chính nhà nước để từ đó xác định rõ các trường hợp và điều kiện ủy quyền, trách nhiệm quyền hạn của người ủy quyền và người được ủy quyền.

- Hoàn thiện pháp luật về tuyển dụng và sử dụng công chức để đảm bảo tinh giản đội ngũ công chức hiện nay, hướng tới mục tiêu xây dựng đội ngũ công chức hành chính chuyên nghiệp, nâng cao trách nhiệm của đội ngũ công chức trong thực thi nhiệm vụ, công vụ.

Thứ hai, hoàn thiện pháp luật về thủ tục hành chính.

Cải cách thủ tục hành chính phải bảo đảm tạo thuận lợi nhất cho người dân, doanh nghiệp và góp phần tích cực chống quan liêu, phòng và chống tham nhũng, lãng phí. Cải cách thủ tục hành chính là khâu đột phá để tạo môi trường thuận lợi, minh bạch cho hoạt động của người dân và doanh nghiệp. Do đó, hoàn thiện pháp luật về thủ tục hành chính sẽ bao gồm những nội dung cụ thể sau:

- Xây dựng khung pháp luật chung về thủ tục hành chính. Có thể tham khảo kinh nghiệm của một số nước trên thế giới như Đức, Nhật Bản trong việc ban hành Luật Thủ tục hành chính để quy định cụ thể về các nguyên tắc xây dựng, các tiêu chí đánh giá thủ tục hành chính, các loại và trình tự thực hiện các loại thủ tục hành chính.

- Đẩy mạnh hoạt động kiểm soát thủ tục hành chính nhằm loại bỏ kịp thời các thủ tục hành chính gây khó khăn, phiền hà cho người dân và doanh nghiệp.

- Tăng cường ứng dụng khoa học, công nghệ vào thực hiện thủ tục hành chính nhằm giảm bớt chi phí và thời gian thực hiện thủ tục hành chính, tăng cường tính liên thông trong thực hiện thủ tục hành chính giữa các cơ quan, các ngành, giữa trung ương với địa phương.

Thứ ba, hoàn thiện pháp luật về dịch vụ công.

Các cơ quan hành chính nhà nước cần tập trung vào chức năng quản lý và giảm bớt các hoạt động cung cấp dịch vụ công trực tiếp. Pháp luật hiện hành về cung cấp dịch vụ công chưa được quy định đồng bộ, thống nhất. Để đảm bảo các tổ chức, cá nhân có thể tham gia vào cung cấp và sử dụng dịch vụ công một cách công khai, bình đẳng cần hoàn thiện pháp luật về quản lý và cung cấp dịch vụ công như sau:

- Ban hành văn bản pháp luật quy định rõ về các loại hình dịch vụ công: dịch vụ hành chính công, dịch vụ công ích, dịch vụ sự nghiệp công, từ đó xác định rõ cơ chế và khung pháp lý để điều chỉnh đối với mỗi loại hình dịch vụ công.

- Pháp luật cần có cơ chế bảo đảm sự tham gia bình đẳng của các tổ chức, cá nhân (khối tư nhân) tham gia vào việc cung cấp dịch vụ công thông qua các hình thức cụ thể, nhất định. Đảm bảo sự cạnh tranh bình đẳng giữa nhà nước và tư nhân trong việc cung cấp dịch vụ công.

- Xây dựng các tiêu chí đánh giá chất lượng dịch vụ công và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong quản lý việc cung cấp các dịch vụ công của các cơ quan, cá nhân, tổ chức.

Thứ tư, hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm giải trình, đảm bảo tính công khai, minh bạch của bộ máy hành chính.

Để đảm bảo hạn chế việc lạm quyền, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, cần hoàn thiện trách nhiệm giải trình và yêu cầu công khai, minh bạch thông qua những nội dung cụ thể sau:

- Hoàn thiện pháp luật về bảo đảm nghĩa vụ giải trình của các cơ quan hành chính nhà nước và cán bộ, công chức khi thực thi công vụ, trong đó quy định rõ các trường hợp phải giải trình, đối thoại với người dân, doanh nghiệp.

- Quy định các nghĩa vụ công khai, minh bạch thông tin thông qua việc bảo đảm quyền được tiếp cận thông tin của các cá nhân, tổ chức.

Thứ năm, hoàn thiện pháp luật hành chính nhằm đảm bảo sự tham gia của người dân vào quản lý hành chính nhà nước.

Nền hành chính phục vụ là nền hành chính mà ở đó người dân có quyền tham gia vào tất cả các hoạt động quản lý hành chính nhà nước từ quá trình ban hành chính sách, quyết định đến tổ chức thực hiện các quyết định đó trên thực tiễn. Do đó, hoàn thiện pháp luật về bảo đảm sự tham gia của người dân bao gồm những nội dung sau:

- Các hình thức và cách thức tham gia của người dân vào quản lý hành chính nhà nước: cụ thể là quy định các hình thức như đối thoại, giải trình, đóng góp ý kiến của người dân trong quá trình xây dựng và ban hành các chính sách, quyết định.

- Hoàn thiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở, khiếu nại, tố cáo để đảm bảo người dân có thể tham gia hiệu quả, thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo trên thực tiễn.

Như vậy, pháp luật hành chính trong thời kỳ hội nhập và toàn cầu hóa cần được hoàn thiện dựa trên những tiêu chuẩn, học thuyết về quản lý hành chính mới mà các quốc gia trên thế giới đang thực hiện; đồng thời, phải phù hợp truyền thống dân tộc, đặc điểm thể chế chính trị của Việt Nam Mặc dù Nhà nước ta đã và đang xây dựng một hệ thống pháp luật hành chính để điều chỉnh các nội dung cơ bản của quản lý hành chính nhà nước, tuy nhiên, vẫn còn tồn tại các khoảng trống pháp lý như thiếu các luật về thủ tục hành chính, luật về dịch vụ công, cũng như hạn chế trong hệ thống các quy định hiện hành ở mỗi lĩnh vực, nội dung cụ thể. Việc hoàn thiện pháp luật hành chính, xây dựng Chính phủ kiến tạo ở Việt Nam không chỉ đặt trong bối cảnh nghiên cứu những vấn đề còn tồn tại của pháp luật trong nước mà còn đặt trong bối cảnh của pháp luật quốc tế, có nghĩa là xây dựng một hệ thống pháp luật hành chính phù hợp với chuẩn mực quốc tế, đáp ứng yêu cầu của hội nhập và toàn cầu hóa./.

----------------------------------

Ghi chú:

 (1) Osborne, David and Gaebler, Ted, Reinterventing Government. Boston, MA: Addison-Wesley Publishing (1992).

(2) “Public Administration and Democratic Governance: Governments Serving Citizens - Unpan025063.Pdf,” 3, accessed June 5, 2017, http://unpan1.un.org/intradoc/groups/public/documents/un/unpan025063.pdf.(Quản lý hành chính và Quản trị dân chủ: Chính phủ phục vụ công dân, truy cập ngày 5/6/2017).

(3) Public Administration and Democratic Governance: Governments Serving Citizens - Unpan025063.Pdf , trang 1.

(4) UNDP, From Old Public Administration to the New Public Service: Implications for Public Sector Reform in Developing Countries, 2015, page 5 (Từ Quản lý hành chính cũ đến Dịch vụ công mới: Ứng dụng cho Cải cách khu vực công ở các nước đang phát triển).

(5) “Public Administration and Democratic Governance: Governments Serving Citizens - Unpan025063.Pdf,” 1.

 (6) “Public Administration and Democratic Governance: Governments Serving Citizens - Unpan025063.Pdf,” 4.

(7) “Globalization, Democracy, and the Need for a New Administrative Law - Viewcontent.Cgi,” accessed August 25, 2017, http://www.repository.law.indiana.edu/cgi/viewcontent.cgi?article=1252&context=ijgls.(Toàn cầu hóa, dân chủ và sự cần thiết của Luật hành chính mới), truy cập ngày 25/8/2017.

(8) Nghị quyết số 17-NQ/TW ngày 01/8/2007, Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng, khóa X.

Tài liệu tham khảo:

1.  “Globalization, Democracy, and the Need for a New Administrative Law - Viewcontent.Cgi,” truy cập ngày 25/8/ 2017, http://www.repository.law.indiana.edu/cgi/viewcontent.cgi?article=1252&context=ijgls.

(Toàn cầu hóa, dân chủ và sự cần thiết của Luật hành chính mới), truy cập ngày 25/8/2017.

2. “Public Administration and Democratic Governance: Governments Serving Citizens - Unpan025063.Pdf,”

3, truy cập ngày 5/6/2017 http://unpan1.un.org/intradoc/groups/public/documents/un/unpan025063.pdf.(Quản lý hành chính và Quản trị dân chủ: Chính phủ phục vụ công dân, truy cập ngày 5/6/2017).

3.  Chon-Kyun Kim, “Public Administration in the Age of Globalization” (International Public Management Review - electronic Journal, 2008), journals.sfu.ca/ipmr/index.php/ipmr/article/download/43/43 (Quản lý hành chính trong thời kỳ toàn cầu hóa).

4. Nghị quyết 30c/NQ-CP ngày 08/11/2011 của Chính phủ về ban hành tổng thể Chương trình cải cách hành chính giai đoạn 2011 - 2020.

5. Nghị quyết số 17-NQ/TW ngày 01/8/2007, Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng, khóa X.

6. Osborne, David and Gaebler, Ted, Reinventing Government. Boston, MA: Addison-Wesley Publishing (1992) ( Tái cơ cấu chính phủ).

7. UNDP, From Old Public Administration to the New Public Service: Implications for Public Sector Reform in Developing Countries, 2015 (Từ quản lý hành chính cũ đến dịch vụ công mới: ứng dụng cho cải cách khu vực công ở các nước đang phát triển).

Khối người nơm nớp sống trong nỗi lo “tổ chức gọi tên mình”…

Việc ông Lê Bạch Hồng, nguyên Thứ trưởng, nguyên Tổng giám đốc BHXH Việt Nam cùng một số cán bộ của cơ quan này bị bắt tạm giam không lạ nhưng cũng gây đôi chút ngạc nhiên.

Thiết kế lại cách vận hành của bộ máy

Tham nhũng đã trở thành một vấn nạn thường trực ở nước ta, mà bằng chứng là hầu như kỳ họp Quốc hội nào, các đại biểu cũng ít nhiều đề cập đến vấn đề này. Gần như mọi ý kiến liên quan đến việc chống tham nhũng trên thực tế, hay liên quan đến các quy định chống tham nhũng, đều thể hiện sự chưa hài lòng.

Xây dựng và phát triển đội ngũ trí thức - Mười năm nhìn lại

Sau 10 năm thực hiện Nghị quyết số 27-NQ/TW, ngày 06/8/2008, của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về “Xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, công tác xây dựng đội ngũ trí thức ở nước ta có những chuyển biến quan trọng. Vị trí, vai trò của đội ngũ trí thức được nâng cao và không ngừng được củng cố, tăng cường về số lượng, chất lượng, từng bước đáp ứng yêu cầu phát triển chung của đất nước trong tình hình mới.

 

Đổi mới đánh giá cán bộ

Đánh giá cán bộ, công chức, viên chức (gọi chung là cán bộ) là một công việc rất quan trọng trong chiến lược xây dựng đội ngũ cán bộ của Đảng và Nhà nước ta. Tuy nhiên, trong những năm qua, công tác đánh giá cán bộ còn nhiều hạn chế, bất cập, dẫn đến đội ngũ cán bộ đông nhưng không mạnh, trong đó có một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về đạo đức, lối sống… Do vậy, cần sớm đổi mới nội dung, cách thức và trách nhiệm trong đánh giá cán bộ.

Xây dựng khung năng lực cho vị trí việc làm đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính

Khung năng lực là một công cụ mô tả các năng lực cần thiết phù hợp với một dạng hoạt động chung hoặc một số vị trí việc làm cụ thể. Xây dựng khung năng lực tạo chỉ dẫn thực hiện một loạt hoạt động quản lý nguồn nhân lực khác nhau và đảm bảo tính nhất quán trong việc thực hiện. Tuy nhiên, đến nay việc xây dựng các khung năng lực và bản mô tả công việc đối với mỗi vị trí việc làm trong toàn hệ thống công vụ vẫn đang trong quá trình triển khai thực hiện. Bài viết đề cập tới một số vấn đề trọng tâm cần giải quyết trong xây dựng khung năng lực đối với mỗi vị trí việc làm ở các cơ quan nhà nước hiện nay.

Ngăn chặn từ xa 'tham nhũng quyền lực'

Theo PGS. TS. Nguyễn Trọng Phúc, nguyên Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng - Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, vấn đề đang được dư luận quan tâm và bức xúc hiện nay là nạn tham nhũng quyền lực mà một trong biểu hiện là chạy chức, chạy quyền.

Chúng ta cần một tư duy mới, không truyền thống, không tuần tự

TS. Nguyễn Đình Cung cho biết, tôi vô cùng thích thú và hoàn toàn chia sẻ với bài phát biểu mới đây của Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Nguyễn Mạnh Hùng tại Hội thảo Smart IoT Vietnam 2018.

Tiếp tục đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ đáp ứng yêu cầu giai đoạn cách mạng mới

Công tác cán bộ có vị trí quan trọng, luôn được Đảng ta quan tâm chăm lo xây dựng từ khi thành lập đến nay. Trong công tác cán bộ, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ luôn được cấp ủy các cấp, các cơ quan, đơn vị, tổ chức của Đảng quan tâm thực hiện.

Tín nhiệm của nhân dân

Ngày 24/10, theo lịch trình Quốc hội bắt đầu tiến hành quy trình lấy phiếu tín nhiệm đối với 48 chức danh do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn, bao gồm: Phó Chủ tịch nước; Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng Dân tộc, Chủ nhiệm Ủy ban của Quốc hội; Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ; Chánh án Tòa án Nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán Nhà nước. Riêng 2 chức danh là Chủ tịch nước và Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông do chưa đủ 9 tháng công tác nên Quốc hội sẽ không lấy phiếu tín nhiệm.

Nhân tài và vấn đề trọng dụng nhân tài

Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, là lực lượng rường cột của mỗi quốc gia nói chung, của mỗi một tổ chức, cơ quan nói riêng. Lịch sử phát triển của thế giới nói chung và các quốc gia, dân tộc nói riêng, đều gắn liền với chính sách trọng dụng nhân tài. Vì vậy, muốn nhân tài phát huy trí tuệ thì phải có chính sách phù hợp. Tiến sĩ Lê Thanh Vân, Ủy viên Thường trực Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội, Đại biểu Quốc hội các khóa XIII, XIV đã chia sẻ về vấn đề này.

Lòng dân

Tôi cho rằng có nhiều cấp độ hài lòng của dân chúng. Cấp độ thứ nhất là không bị rơi vào oan trái, cấp độ thứ hai là không còn cảm giác bất an trong đời sống thường nhật, cấp độ thứ ba là được hài lòng về các khía cạnh trong sinh hoạt và cấp độ thứ tư là dân được quyền quyết định.

Xem thêm
Tin mới nhất
04/12/2018 10:54

Hà Nội: Tăng cường tuyên truyền dịch vụ công trực tuyến mức độ 3,4 đến người dân

04/12/2018 10:45

Cán bộ cấp chiến lược phải có tầm nhìn và “sạch”

04/12/2018 10:31

Cần sớm có quy định từ chức

04/12/2018 10:09

Hướng dẫn về kinh phí thực hiện chính sách tinh giản biên chế

04/12/2018 10:07

Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông: Thay vì nghe giảng hãy đối thoại

Video
Cải cách hành chính năm 2017 - Một số điểm nổi bật




Chuong trinh tong the 2010 Tinh hinh trien khai Cac co che cai cach Cau chuyen CCHC Thao luan Y kien bao chi Y kien nguoi dan Dia chi lien he

kênh thông tin đang được cập nhật

Ý kiến báo chí
04/12/2018 10:50

Dùng công nghệ kiểm soát tài sản cán bộ: Vẫn lo

26/11/2018 03:20

“Lò to, gió lớn, nắng hanh – Củi tươi, củi mục tất thành tro than!”

19/11/2018 10:55

Thiết kế lại cách vận hành của bộ máy

29/10/2018 03:00

Tín nhiệm của nhân dân

23/10/2018 03:09

Lòng tự trọng và 'văn hóa không chạy chức chạy quyền'

User Online
Lượt truy cập
00000-1
Khách online 255

Trang tin điện tử về Cải cách hành chính Nhà nước
Cơ quan chủ quản: Bộ Nội vụ
Giấy phép số 79/GP-BC do Bộ Văn hóa - Thông tin cấp
Quản lý Trang tin:Trung tâm Thông tin - Bộ Nội vụ. Điện thoại: (844) 62821016- Fax: (844) 39740617- Email: websitecchc@moha.gov.vn
Biên tập Trang tin: Vụ Cải cách hành chính- Bộ Nội vụ. Điện thoại: (844) 08046247 - Fax: (844) 39740617 - Email:vucaicachhanhchinh@moha.gov.vn
Địa chỉ: Số 8 Tôn Thất Thuyết - Nam Từ Liêm - Hà Nội.