XÂY DỰNG, ÁP DỤNG HỆ THỐNG QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG THEO TIÊU CHUẨN VIỆT NAM ISO 9001 VÀO HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CƠ QUAN NHÀ NƯỚC, TỔ CHỨC THUỘC HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ GIAI ĐOẠN 2011 - 2020

12:23 26/07/2021 | Lượt xem : 1307

  • Xem với cỡ chữ T T
  • Inverts
  • Lượt xem : 1307
Trước yêu cầu, đòi hỏi bức xúc của đời sống xã hội và sự phát triển nền kinh tế của đất nước, Nhà nước ta đã sớm có chủ trương và chỉ đạo tiến hành cải cách hệ thống bộ máy nhà nước và phương thức hoạt động, nhằm tìm giải pháp từng bước và đồng bộ cho cuộc cải cách hành chính, với mục tiêu xây dựng một bộ máy hành chính nhà nước có năng lực và hiệu quả.
Nhằm hướng đến xây dựng một nền hành chính hiện đại, dân chủ, trong sạch và vững mạnh, việc sử dụng công cụ quản lý thích hợp là rất quan trọng. Trong khá nhiều các mô hình quản lý có thể đưa vào áp dụng trong cơ quan hành chính, hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9001 là một lựa chọn thích hợp.
Cho đến nay, qua gần 14 năm triển khai thực hiện, một lần nữa có thể khẳng định chủ trương áp dụng Hệ thống quản lý chất lượng vào hoạt động các cơ quan hành chính theo Quyết định số 144/2006/QĐ-TTg ngày 20/6/2006, Quyết định số 118/2009/QĐ-TTg ngày 30/9/2009 và nay là Quyết định số 19/2014/QĐ-TTg ngày 05/3/2014 của Thủ tướng Chính phủ là hoàn toàn đúng đắn. Việc ứng dụng Hệ thống quản lý chất lượng trong hoạt động quản lý nhà nước phục vụ các tổ chức, cá nhân là cần thiết, có hiệu quả thiết thực, phù hợp với xu thế xây dựng nền hành chính hiện đại theo hướng công khai, minh bạch, đáp ứng nhu cầu hội nhập kinh tế thế giới của nước ta, hỗ trợ đắc lực cho chương trình cải cách hành chính của Chính phủ.
1. Kết quả triển khai Quyết định số 144/2006/QĐ-TTG và Quyết định số 118/2009/QĐ-TTG (từ năm 2006 đến năm 2014)
1.1. Những kết quả đạt được
Thứ nhất, hình thành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật triển khai thực hiện Quyết định số 144/2006/QĐ-TTg, Quyết định số 118/2009/QĐ-TTg một cách đầy đủ, kịp thời giải quyết các khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện (cụ thể trong Phụ lục I kèm theo).
Thứ hai, hình thành hệ thống các cơ sở đào tạo kiến thức quản lý hành chính nhà nước và hệ thống tổ chức/chuyên gia tư vấn, tổ chức chứng nhận/chuyên gia đánh giá, đáp ứng yêu cầu tư vấn, đánh giá Hệ thống quản lý chất lượng trong cơ quan hành chính nhà nước.
Thứ ba, hình thành hệ thống cơ quan hành chính nhà nước đã xây dựng và áp dụng Hệ thống quản lý chất lượng có hiệu lực, hiệu quả. Cho đến hết ngày 17/5/2014, đã có 5.970 cơ quan hành chính nhà nước được cấp Giấy chứng nhận Hệ thống quản lý chất lượng (tại địa phương có 4.554 cơ quan hành chính nhà nước trong 63 tỉnh, thành phố được cấp giấy chứng nhận; tại Trung ương có 1416 cơ quan thuộc 20 Bộ, ngành được cấp giấy chứng nhận).
Thứ tư, để bảo đảm tiết kiệm, chống lãng phí cũng như thống nhất trong quá trình triển khai xây dựng, áp dụng đối với các cơ quan tương đồng về chức năng, nhiệm vụ, Bộ Khoa học và Công nghệ đã công bố mô hình khung Hệ thống quản lý chất lượng cho các cơ quan hành chính nhà nước tại địa phương; Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bảo hiểm Xã hội Việt Nam, Bộ Công an công bố mô hình khung Hệ thống quản lý chất lượng cho các cơ quan hành chính nhà nước ngành dọc trực thuộc đóng tại địa phương.
Thứ năm, để chấn chỉnh, nâng cao chất lượng của hoạt động tư vấn, đánh giá của các tổ chức tư vấn, chứng nhận, Bộ Khoa học và Công nghệ đã thường xuyên tổ chức kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm, đến nay, về cơ bản hoạt động này đã đi vào nề nếp, đáp ứng được yêu cầu đặt ra.
Thứ sáu, để tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hoạt động xây dựng, áp dụng, duy trì, cải tiến Hệ thống quản lý chất lượng tại cơ quan hành chính nhà nước, các Bộ, ngành, địa phương, Bộ Khoa học và Công nghệ đã tổ chức kiểm tra, giám sát hoạt động này. Từ đó, có những hướng dẫn, hỗ trợ, kiến nghị những biện pháp để nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hoạt động này.
Thứ bảy, hiệu quả đạt được, việc áp dụng Hệ thống quản lý chất lượng trong hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước đã mang lại hiệu quả thiết thực, cụ thể như sau:
Về hiệu quả chung, đã xây dựng được các quy trình giải quyết công việc một cách khoa học; từng bước cải tiến phương pháp làm việc, tạo điều kiện thuận lợi cho từng cán bộ, công chức, phòng, ban giải quyết công việc thông suốt, kịp thời, hiệu quả; đơn giản hoá quy trình và rút ngắn thời gian giải quyết công việc của doanh nghiệp, địa phương, cơ sở; giảm các tác động tiêu cực trong thực thi nhiệm vụ của cán bộ, công chức khi giải quyết các thủ tục hành chính cho tổ chức, cá nhân.
Môi trường, điều kiện làm việc về công sở, về trang thiết bị văn phòng... đã từng bước được cải tiến và hoàn thiện; cán bộ, công chức thường xuyên được đào tạo, tập huấn nâng cao kiến thức chuyên môn nghiệp vụ, đáp ứng yêu cầu công việc ngày càng tốt hơn.
Các cơ quan, đơn vị đã có ý thức hơn trong việc tổ chức thu thập, sắp xếp, lưu trữ các loại văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hướng dẫn của cơ quan cấp trên làm căn cứ thực hiện công việc theo chức năng, nhiệm vụ được phân công, để tham chiếu khi cần; hồ sơ tài liệu được sắp xếp ngăn nắp và có hệ thống theo từng lĩnh vực công việc.
Tác phong làm việc của cán bộ, công chức khoa học hơn, nghiêm túc hơn; thái độ giao tiếp với người dân, khách hàng ân cần, cởi mở hơn, bước đầu tạo sự chuyển biến trong nhận thức về vai trò của người cán bộ, công chức khi thi hành nhiệm vụ; cán bộ, công chức là cầu nối giữa luật pháp và người dân, có trách nhiệm hướng dẫn người dân thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.
Góp phần tích cực trong việc thực hiện cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông” theo quy định của Chính phủ; chất lượng, hiệu quả của công tác quản lý và cung cấp dịch vụ hành chính công được nâng cao; từng bước tạo được lòng tin và sự hài lòng của người dân khi đến cơ quan hành chính nhà nước.
Tạo điều kiện thuận lợi để triển khai việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quá trình quản lý và tác nghiệp hồ sơ và là công cụ hỗ trợ đắc lực phục vụ công tác cải cách hành chính đối với các cơ quan hành chính nhà nước trong giai đoạn hiện nay.
Về phía lãnh đạo các cơ quan, đơn vị xây dựng và áp dụng Hệ thống quản lý chất lượng, lãnh đạo cơ quan, đơn vị điều hành công việc nội bộ trôi chảy và có hiệu quả hơn nhờ thiết lập cơ chế giải quyết công việc rành mạch và thống nhất, xác định rõ trách nhiệm của lãnh đạo và cán bộ, công chức trong quy trình xử lý công việc; đặc biệt, đối với cơ quan, đơn vị áp dụng công nghệ thông tin trong điều hành xử lý công việc, lãnh đạo cơ quan không cần phải thường xuyên có mặt tại cơ quan vẫn điều hành và nắm bắt được tình hình công việc ở mọi nơi, mọi lúc.
Lãnh đạo cơ quan, đơn vị kiểm soát được toàn bộ quá trình xử lý công việc tại cơ quan, đơn vị; nắm rõ công việc ai đang làm và có đúng tiến độ hay không; hạn chế được cách thức giải quyết công việc tuỳ tiện theo chủ quan của cán bộ, công chức.
Lãnh đạo cơ quan, đơn vị có thể đánh giá được mức độ hoàn thành công việc của cán bộ, công chức, từ đó làm căn cứ cho công tác bình bầu thi đua khen thưởng đối với cán bộ, công chức một cách công bằng, khách quan hơn.
Về phía cán bộ, công chức, được đào tạo, tập huấn nâng cao về kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ, được làm việc trong môi trường ngày càng tốt hơn.
Được phân công rõ ràng trách nhiệm trong quá trình xử lý công việc tại cơ quan, đơn vị. Được đánh giá năng lực chuyên môn, tinh thần trách nhiệm khách quan hơn.
Việc áp dụng Hệ thống quản lý chất lượng đối với các quy trình nội bộ của cơ quan, đơn vị giúp cán bộ, công chức thực hiện được trách nhiệm, quyền lợi của mình đúng nơi, đúng người có thẩm quyền phê duyệt.
Về phía các tổ chức, công dân (người thụ hưởng kết quả của việc áp dụng Hệ thống quản lý chất lượng), tại Ủy ban nhân dân các cấp và các cơ quan chuyên môn trực thuộc, việc xây dựng, áp dụng Hệ thống quản lý chất lượng đối với các lĩnh vực liên quan trực tiếp đến giải quyết thủ tục hành chính cho tổ chức, công dân đã thực sự đem lại hiệu quả, đặc biệt là trong các lĩnh vực được coi là vấn đề nhạy cảm đối với xã hội hiện nay: cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cấp Giấy phép xây dựng, cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, cấp Giấy khai sinh, Chứng thực…
Các thủ tục hành chính đều có quy trình xử lý công việc công khai, minh bạch; quy định rõ các loại giấy tờ cần phải có trong hồ sơ; quy định thời gian xử lý và trả kết quả, làm cho người dân không mất nhiều thời gian đi lại, chờ đợi, sự hài lòng về chất lượng dịch vụ công ngày càng cao hơn.
Áp dụng Hệ thống quản lý chất lượng làm giảm thiểu sự nhũng nhiễu, gây phiền hà của cán bộ, công chức trong thực thi nhiệm vụ. Tổ chức, người dân đến cơ quan nhà nước đã được hướng dẫn, trả kết quả xử lý đúng hẹn… là một bước tiến rất quan trọng trong tiến trình cải cách thủ tục hành chính ở Việt Nam.
Ngoài ra, việc áp dụng Hệ thống quản lý chất lượng đối với các lĩnh vực liên quan đến giải quyết thủ tục hành chính cho tổ chức, công dân còn là biện pháp để kiểm tra, giám sát được việc thực hiện trên thực tế các văn bản quy phạm pháp luật, đặc biệt là với các quy định về thời gian xử lý hồ sơ, về phí, lệ phí, về việc áp dụng thống nhất các biểu mẫu… từ đó nghiên cứu, kiến nghị sửa đổi hoặc điều chỉnh cho phù hợp với đặc điểm từng địa phương, ban ngành, tránh bị chồng chéo, rườm rà các thủ tục, giấy tờ không cần thiết. Đây chính là một nội dung đáp ứng mục tiêu đơn giản hoá thủ tục hành chính của Chính phủ.
Tác động của việc áp dụng Hệ thống quản lý chất lượng trong công cuộc cải cách hành chính của nước ta. Việc xây dựng, áp dụng Hệ thống quản lý chất lượng vào hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước một cách có hiệu lực, hiệu quả là một trong những biện pháp thúc đẩy công cuộc cải cách hành chính của Chính phủ, cụ thể như sau:
Thứ nhất, giúp tìm ra biện pháp để cải cách thủ tục hành chính: Hệ thống quản lý chất lượng yêu cầu cơ quan hành chính nhà nước khi giải quyết thủ tục hành chính cho người dân/tổ chức phải công khai các yêu cầu về hồ sơ, tài liệu mà người dân phải nộp; nêu rõ quy trình xử lý công việc, kết quả xử lý cuối cùng, thời gian hoàn thành, từ đó có thể đưa ra biện pháp để giúp đơn giản hoá các thủ tục hành chính.
Thứ hai, giúp vận hành cơ chế “một cửa” và “một cửa liên thông” hiệu quả hơn: Hệ thống quản lý chất lượng giúp thấy rõ trong hoạt động của nội bộ cơ quan khi giải quyết công việc, các khâu trong các phòng, ban phải kết nối với nhau một cách hợp lý, từ đó có thể thấy rõ khâu nào bị chồng chéo, bất hợp lý để liên tục cải tiến các quy trình xử lý công việc cho phù hợp, phục vụ người dân/tổ chức tốt hơn.
Thứ ba, thúc đẩy việc nâng cao và hoàn thiện điều kiện cơ sở hạ tầng, trang thiết bị văn phòng cho cán bộ, công chức; đẩy mạnh công tác đào tạo, tập huấn về chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ, công chức để đáp ứng tốt hơn yêu cầu vị trí công tác.
Thứ tư, tạo điều kiện để người dân cùng giám sát cán bộ, công chức, giám sát các thủ tục hành chính có được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật hay không, từ đó kiến nghị sửa đổi, chỉnh lý văn bản quy phạm pháp luật cho phù hợp với tình hình thực tế.
Qua khảo sát, đánh giá thực trạng tại các cơ quan hành chính đã và đang xây dựng Hệ thống quản lý chất lượng có thể thấy rằng: Chủ trương áp dụng Hệ thống quản lý chất lượng vào hoạt động các cơ quan hành chính theo Quyết định số 144/2006/QĐ-TTg, Quyết định số 118/2009/QĐ-TTg là hoàn toàn đúng đắn. Việc ứng dụng Hệ thống quản lý chất lượng trong hoạt động quản lý nhà nước phục vụ các tổ chức, cá nhân là cần thiết, có hiệu quả thiết thực, phù hợp với xu thế xây dựng nền hành chính hiện đại theo hướng công khai, minh bạch, đáp ứng nhu cầu hội nhập kinh tế thế giới của nước ta, hỗ trợ đắc lực cho chương trình cải cách hành chính của Chính phủ (những hiệu quả đạt được đã được báo cáo nêu trên).
Việc xây dựng và áp dụng Hệ thống quản lý chất lượng trong cơ quan hành chính nếu được kết hợp với thủ tục hành chính “một cửa” và công nghệ thông tin thì hiệu quả rất cao.
Sự thành công của việc áp dụng Hệ thống quản lý chất lượng vào hoạt động của mỗi cơ quan hành chính nhà nước hoàn toàn được quyết định bởi sự chỉ đạo quyết liệt của lãnh đạo các cấp, ý chí quyết tâm của lãnh đạo cơ quan, sự nhận thức đúng đắn về Hệ thống quản lý chất lượng của lãnh đạo và cán bộ trong đơn vị.
1.2. Tồn tại
Bên cạnh những kết quả đạt được nêu trên, việc triển khai thực hiện vẫn còn một số tồn tại như sau:
Thứ nhất, một số Bộ, ngành, địa phương chưa triển khai thực hiện theo đúng nội dung và thời hạn quy định như: Chưa xây dựng và phê duyệt kế hoạch triển khai áp dụng theo Quyết định số 118/2009/QĐ-TTg: Bộ Quốc phòng, Bộ Giao thông vận tải và TP. Hồ Chí Minh. Chưa công bố mô hình khung Hệ thống quản lý chất lượng cho các cơ quan ngành dọc thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp. Việc xây dựng, áp dụng tại các cơ quan ngành dọc trực thuộc các Bộ, ngành còn chậm theo tiến độ quy định. Vẫn còn nhiều cơ quan hành chính nhà nước tại địa phương đã xây dựng, áp dụng nhưng phạm vi áp dụng chưa bao gồm toàn bộ các thủ tục hành chính theo quy định.
Thứ hai, vai trò của đơn vị chủ trì, đơn vị tham mưu tại một số Bộ, ngành, địa phương chưa được đẩy mạnh trong hoạt động kiểm tra, giám sát, hoạt động đào tạo.
Thứ ba, vẫn còn một số cơ quan hành chính nhà nước chưa thực hiện nghiêm túc việc duy trì Hệ thống quản lý chất lượng sau khi được cấp giấy chứng nhận, ảnh hưởng đến hiệu lực, hiệu quả của hoạt động này.
Thứ tư, một số Bộ, ngành, địa phương chưa thực hiện việc báo cáo tình hình triển khai theo đúng quy định tại Quyết định số 118/2009/QĐ-TTg.
2. Kết quả triển khai Quyết định số 19/2014/QĐ-TTG ngày 05/3/2014 (từ năm 2014 đến nay)
Qua gần 08 năm triển khai thực hiện Quyết định số 144/2006/QĐ-TTg và Quyết định số 118/2009/QĐ-TTg, việc xây dựng và áp dụng Hệ thống quản lý chất lượng không còn là vấn đề mới mẻ, các cơ quan, tổ chức thuộc hệ thống hành chính nhà nước đã có đầy đủ căn cứ pháp lý, sẵn có mô hình khung Hệ thống quản lý chất lượng, các tài liệu đào tạo, hướng dẫn kiến thức về xây dựng, áp dụng và duy trì Hệ thống quản lý chất lượng. Đồng thời, do nhận thức được việc xây dựng và áp dụng Hệ thống quản lý chất lượng là một công cụ đắc lực để cải cách thủ tục hành chính; khẳng định được vai trò, hiệu quả của việc xây dựng và áp dụng hệ thống quản lý chất lượng, nên các Bộ, ngành, địa phương đã quan tâm, tích cực trong quá trình triển khai thực hiện. Các khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai Quyết định số 118/2009/QĐ-TTg chủ yếu tập trung ở yếu tố chủ quan của một số Bộ, ngành, địa phương.
Do đó, nếu tiếp tục bắt buộc cơ quan, tổ chức thuộc hệ thống hành chính nhà nước phải thực hiện hoạt động đánh giá (chứng nhận, giám sát, mở rộng, thu hẹp, phạm vi áp dụng Hệ thống quản lý chất lượng và chứng nhận lại) là không cần thiết mà chỉ nên tập trung vào việc duy trì và nâng cao hiệu quả của việc áp dụng Hệ thống quản lý chất lượng, nâng cao vai trò, trách nhiệm của Thủ trưởng cơ quan, tổ chức thuộc hệ thống hành chính nhà nước trong quá trình xây dựng, áp dụng Hệ thống quản lý chất lượng tại cơ quan và vai trò, trách nhiệm của Thủ trưởng các Bộ, ngành, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong quá trình triển khai thực hiện tại Bộ, ngành, địa phương.
Vì vậy, trên cơ sở đề nghị của Bộ Khoa học và Công nghệ, ngày 05/3/2014, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 19/2014/QĐ-TTg về việc áp dụng Hệ thống quản lý chất lượng theo Tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO 9001:2008 vào hoạt động của các cơ quan, tổ chức thuộc hệ thống hành chính nhà nước (có hiệu lực thi hành kể từ ngày 18/5/2014), Quyết định này thay thế Quyết định số 144/2006/QĐ-TTg và Quyết định số 118/2009/QĐ-TTg.
Một trong các nội dung thay đổi chính của Quyết định số 19/2014/QĐ-TTg là không thực hiện việc đánh giá của tổ chức chứng nhận và kiến nghị Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng cấp Giấy chứng nhận mà chuyển sang hình thức cơ quan, tổ chức thuộc hệ thống hành chính nhà nước tự công bố Hệ thống quản lý chất lượng phù hợp Tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO 9001. Đồng thời, giao trách nhiệm kiểm tra hằng năm việc xây dựng, áp dụng, duy trì, cải tiến Hệ thống quản lý chất lượng cho các đơn vị chủ trì thuộc các Bộ, ngành và Sở Khoa học và Công nghệ, Chi cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng tại địa phương. Bên cạnh đó, Quyết định này đã quy định cụ thể nhiệm vụ của người đứng đầu cơ quan và nhiệm vụ của Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
2.1. Những kết quả đạt được
Thứ nhất, hình thành được hệ thống văn bản, tài liệu triển khai Quyết định số 19/2014/QĐ-TTg đầy đủ và kịp thời
Thông tư số 26/2014/TT-BKHCN ngày 10/10/2014 của Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành quy định chi tiết thi hành Quyết định số 19/201¬4/QĐ-TTg (thay thế Thông tư số 01/2010/TT-BKHCN, Thông tư số 09/2011/TT-BKHCN và Thông tư số 27/2011/TT-BKHCN).
Thông tư số 116/2015/TT-BTC ngày 11/8/2015 của Bộ Tài chính ban hành Quy định công tác quản lý tài chính đối với việc tư vấn, xây dựng, áp dụng, duy trì và cải tiến Hệ thống quản lý chất lượng theo TCVN ISO 9001:2008 vào hoạt động của các cơ quan, tổ chức thuộc hệ thống hành chính nhà nước (thay thế Thông tư số 159/2010/TT-BTC).
Quyết định số 2249/QĐ-TĐC ngày 04/12/2014 của Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng ban hành hướng dẫn về thực hiện hoạt động tư vấn Hệ thống quản lý chất lượng theo TCVN ISO 9001:2008 vào hoạt động của các cơ quan, tổ chức thuộc hệ thống hành chính nhà nước.
Quyết định số 101/QĐ-BKHCN ngày 21/01/2019 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ công bố Mô hình khung hệ thống quản lý chất lượng theo TCVN ISO 9001:2015 cho các cơ quan, tổ chức thuộc hệ thống hành chính nhà nước tại địa phương.
Công văn số 419/BKHCN-TĐC ngày 21/02/2018 của Bộ Khoa học và Công nghệ hướng dẫn các Bộ, ngành, địa phương lộ trình chuyển đổi áp dụng TCVN ISO 9001:2015.
Công văn số 1907/BKHCN-TĐC ngày 25/6/2018 của Bộ Khoa học và Công nghệ hướng dẫn hoạt động tư vấn, đánh giá, đào tạo theo TCVN 9001:2015.
Công văn số 3003/BKHCN-TĐC ngày 25/9/2018 của Bộ Khoa học và Công nghệ hướng dẫn các bộ quản lý ngành, lĩnh vực và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố việc áp dụng tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO 9001:2015 (căn cứ trên cơ sở ý kiến của Bộ Tài chính).
Thứ hai, tại các Bộ, ngành, qua theo dõi, tổng hợp báo cáo của các Bộ, ngành thì kết quả triển khai tại các Bộ, ngành như sau: Đã có 22/22 Bộ, ngành phê duyệt kế hoạch triển khai thực hiện Quyết định số 19/2014/QĐ-TTg. Đã có 22/22 Bộ, ngành giao đơn vị chủ trì, giúp việc triển khai Quyết định số 19/2014/QĐ-TTg. Tình hình kiểm tra hoạt động xây dựng, áp dụng, duy trì và cải tiến Hệ thống quản lý chất lượng tại các cơ quan, đơn vị trực thuộc: Năm 2015, có 09 Bộ, ngành; năm 2016 có 16 Bộ, ngành; năm 2017 có 08 Bộ, ngành; năm 2018 có 14 Bộ, ngành và năm 2019 có 18 Bộ, ngành đã thực hiện kiểm tra. Một số Bộ, ngành đã triển khai tốt, duy trì đầy đủ hoạt động kiểm tra trong các năm vừa qua như: Bộ Ngoại giao, Bộ Nội vụ, Bộ Khoa học và Công nghệ.
Tình hình xây dựng, công bố mô hình khung Hệ thống quản lý chất lượng: Bộ Khoa học và Công nghệ công bố Mô hình khung hệ thống quản lý chất lượng theo TCVN ISO 9001:2015 cho các cơ quan, tổ chức thuộc hệ thống hành chính nhà nước tại địa phương (kèm theo Quyết định số 101/QĐ-BKHCN ngày 21/01/2019).
Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố Mô hình khung hệ thống quản lý chất lượng theo TCVN ISO 9001:2015 cho các cơ quan, tổ chức theo hệ thống ngành dọc trực thuộc.
Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bảo hiểm Xã hội Việt Nam tiếp tục duy trì mô hình khung Hệ thống quản lý chất lượng theo TCVN ISO 9001:2008 cho các cơ quan được tổ chức theo hệ thống ngành dọc trực thuộc.
Việc báo cáo định kỳ tình hình triển khai thực hiện Quyết định số  19/2014/QĐ-TTg: Năm 2015, có 13 Bộ, ngành; năm 2016, có 17 Bộ, ngành; năm 2017 có 14 Bộ, ngành; năm 2018 có 16 Bộ, ngành và năm 2019 có 19 Bộ, ngành đã thực hiện báo cáo.
Một số Bộ, ngành đã thực hiện việc báo cáo đầy đủ trong các năm vừa qua như: Bộ Ngoại giao, Thanh tra Chính phủ, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Xây dựng, Bộ Nội vụ, Bộ Khoa học và Công nghệ.
Thứ ba, kết quả triển khai tại địa phương, qua theo dõi, tổng hợp báo cáo của các tỉnh, thành phố thì kết quả triển khai tại địa phương như sau: Đã có 63/63 địa phương phê duyệt kế hoạch triển khai thực hiện Quyết định số 19/2014/QĐ-TTg. Tình hình kiểm tra hoạt động xây dựng, áp dụng, duy trì và cải tiến Hệ thống quản lý chất lượng tại các cơ quan, đơn vị trên địa bàn: Năm 2015, có 31 địa phương; năm 2016 có 40 địa phương; năm 2017 có 25 địa phương; năm 2018 có 37 địa phương và năm 2019 có 59 địa phương đã thực hiện kiểm tra.
Một số tỉnh, thành phố đã triển khai tốt, duy trì đầy đủ hoạt động kiểm tra trong các năm vừa qua như: Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Định, Cà Mau, TP. Hồ Chí Minh, Lạng Sơn, Lào Cai, Phú Thọ, Tây Ninh, Thanh Hóa, Tiền Giang, Yên Bái.
Việc báo cáo định kỳ tình hình triển khai thực hiện Quyết định số  19/2014/QĐ-TTg: Năm 2015, có 28 địa phương; năm 2016 có 41 địa phương; năm 2017 có 26 địa phương; năm 2018 có 39 địa phương và năm 2019 có 58 địa phương đã thực hiện báo cáo.
Một số tỉnh, thành phố đã thực hiện việc báo cáo đầy đủ trong các năm vừa qua như: Bà Rịa - Vũng Tàu, Cà Mau, TP. Hồ Chí Minh, Lạng Sơn, Lào Cai, Tây Ninh, Thanh Hóa, Trà Vinh, Tuyên Quang, Yên Bái.
2.2. Tồn tại
Cho đến nay, có thể nhận thấy một số tồn tại trong quá trình triển khai Quyết định số 19/2014/QĐ-TTg như sau:
Một là, hầu hết các Bộ, ngành, địa phương chưa thực hiện việc xác định, phân loại thủ tục hành chính được thực hiện tại từng cơ quan, đơn vị thuộc Bộ, ngành, địa phương theo quy định tại Điều 4 Thông tư số 26/2014/TT-BKHCN.
Hai là, một số Bộ, ngành chưa báo cáo về việc xây dựng, công bố, duy trì mô hình khung Hệ thống quản lý chất lượng cho các cơ quan được tổ chức theo hệ thống ngành dọc trực thuộc (như Cục Thi hành án dân sự cấp tỉnh và Chi cục thi hành án dân sự cấp huyện trực thuộc Tổng cục Thi hành án dân sự, Bộ Tư pháp; Cục Quản lý thị trường cấp tỉnh thuộc Tổng cục Quản lý thị trường, Bộ Công Thương).
Ba là, một số Bộ, ngành, địa phương chưa thực hiện hoạt động kiểm tra việc xây dựng, áp dụng tại các cơ quan, đơn vị trực thuộc.
Bốn là, một số Bộ, ngành, địa phương chưa thực hiện báo cáo định kỳ theo đúng quy định (tháng 12 hàng năm và theo biểu mẫu quy định tại Phụ lục II Quyết định số 19/2014/QĐ-TTg).
Năm là, quy định về điểm số cho hoạt động xây dựng và áp dụng Hệ thống quản lý chất lượng trong việc chấm điểm chỉ số cải cách hành chính còn thấp (hiện nay, tại các Bộ, ngành là 2,5 điểm, tại địa phương là 1 điểm), chưa tạo động lực để thúc đẩy, tăng cường hiệu lực, hiệu quả của hoạt động này.
Sáu là, chưa có hình thức khen thưởng để khuyến khích, động viên các cơ quan, cá nhân có thành tích trong quá trình triển khai thực hiện.
Bảy là,hoạt động đào tạo, phổ biến, tuyên truyền về việc xây dựng, áp dụng, duy trì, cải tiến Hệ thống quản lý chất lượng, nghiệp vụ kiểm tra cho các Bộ, ngành, địa phương; hoạt động kiểm tra tình hình xây dựng, áp dụng Hệ thống quản lý chất lượng, tình hình triển khai Quyết định số 19/2014/QĐ-TTg tại các Bộ, ngành, địa phương của Bộ Khoa học và Công nghệ còn hạn chế do kinh phí từ Ngân sách nhà nước cấp cho Bộ Khoa học và Công nghệ để triển khai các hoạt động này còn hạn hẹp.
3. Đề xuất, kiến nghị
Để tiếp tục triển khai thực hiện Quyết định số 19/2014/QĐ-TTg trong thời gian tới có hiệu lực, hiệu quả, kiến nghị các Bộ, ngành, địa phương tập trung thực hiện một số nội dung như sau:
Thứ nhất, các Bộ, ngành, địa phương cần rút kinh nghiệm, thực hiện hoạt động kiểm tra việc xây dựng, áp dụng, duy trì, cải tiến Hệ thống quản lý chất lượng tại các cơ quan, đơn vị trực thuộc theo quy định.
Thứ hai, các Bộ, ngành, địa phương cần rút kinh nghiệm, thực hiện báo cáo định kỳ theo đúng quy định là tháng 12 hằng năm và theo biểu mẫu quy định tại Phụ lục II Quyết định 19/2014/QĐ-TTg.
Thứ ba, các Bộ, ngành, địa phương đẩy mạnh việc nghiên cứu, ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động xây dựng, áp dụng, duy trì và cải tiến Hệ thống quản lý chất lượng theo TCVN ISO 9001 theo quy định tại Quyết định số 19/2014/QĐ-TTg và yêu cầu của Chính phủ tại Nghị quyết số 17/NQ-CP ngày 07/3/2019 về một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm phát triển Chính phủ điện tử giai đoạn 2019 - 2020, định hướng đến 2025.
Thứ tư, các Bộ, ngành, địa phương nghiên cứu các văn bản hướng dẫn của Bộ Khoa học và Công nghệ: Hướng dẫn các Bộ, ngành, địa phương về lộ trình chuyển đổi áp dụng TCVN ISO 9001:2015 (công văn số 419/BKHCN-TĐC ngày 21/02/2018); hướng dẫn hoạt động tư vấn, đánh giá, đào tạo theo TCVN 9001:2015 (công văn số 1907/BKHCN-TĐC ngày 25/6/2018) và hướng dẫn các Bộ quản lý ngành, lĩnh vực và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương việc áp dụng tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO 9001:2015 (công văn số 3003/BKHCN-TĐC ngày 25/9/2018) để triển khai cho phù hợp với tình hình thực tế.
Thứ năm, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố chỉ đạo các cơ quan, tổ chức trên địa bàn nghiên cứu, tham khảo Mô hình khung Hệ thống quản lý chất lượng theo TCVN ISO 9001:2015 (ban hành kèm theo Quyết định số 101/QĐ-BKHCN ngày 21/01/2019 của Bộ Khoa học và Công nghệ) để triển khai việc xây dựng, áp dụng, chuyển đổi áp dụng TCVN ISO 9001:2015.
Thứ sáu, Bộ Nội vụ nghiên cứu, nâng điểm số cho hoạt động xây dựng và áp dụng Hệ thống quản lý chất lượng theo TCVN ISO 9001 trong việc chấm điểm chỉ số cải cách hành chính (khoảng 05/100 điểm) để tạo động lực thúc đẩy, tăng cường hiệu lực, hiệu quả của hoạt động này.
Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng thường trực Chính phủ Trương Hòa Bình, ngày 29/5/2020, Bộ Khoa học và Công nghệ đã có công văn số 1555/BKHCN-TĐC gửi Bộ Nội vụ về việc đề xuất tiêu chí đánh giá đối với nội dung xây dựng, áp dụng Hệ thống quản lý chất lượng. Do đó, đề nghị Bộ Nội vụ nghiên cứu Công văn số 1555/BKHCN-TĐC và phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ trong quá trình triển khai thực hiện công tác chấm điểm chỉ số cải cách hành chính.
Thứ bảy, Bộ Tư pháp, Bộ Công Thương công bố mô hình khung Hệ thống quản lý chất lượng theo TCVN ISO 9001 cho các cơ quan ngành dọc đóng tại địa phương.
Thứ tám, Bộ Tài chính cân đối, bảo đảm nguồn kinh phí để Bộ Khoa học và Công nghệ triển khai các hoạt động đào tạo, phổ biến, tuyên truyền, kiểm tra tình hình xây dựng, áp dụng Hệ thống quản lý chất lượng theo TCVN ISO 9001 trên phạm vi cả nước.
Thứ chín, Bộ Khoa học và Công nghệ làm đầu mối, phối hợp với các cơ quan liên quan tiếp tục tăng cường kiểm tra việc thực hiện Quyết định số 19/2014/QĐ-TTg tại các cơ quan, đơn vị thuộc hệ thống hành chính nhà nước trên phạm vi cả nước; đẩy mạnh kiểm tra hoạt động của các cơ sở đào tạo, tổ chức tư vấn, chuyên gia tư vấn độc lập, tổ chức chứng nhận; kịp thời chấn chỉnh, xử lý các vi phạm theo thẩm quyền. Phổ biến, hướng dẫn việc chuyển đổi áp dụng theo TCVN ISO 9001:2015 và Mô hình khung ban hành kèm theo Quyết định số 101/QĐ-BKHCN ngày 21/01/2019. Đồng thời, giao Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức Hội nghị sơ kết tình hình triển khai Quyết định số 19/2014/QĐ-TTg để đánh giá các kết quả đạt được, giải quyết các khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện.
Thứ mười, đề nghị các Bộ, ngành, địa phương đánh giá tình hình thực hiện Quyết định số 19/2014/QĐ-TTg theo đề nghị của Bộ Khoa học và Công nghệ tại Công văn số 1695/BKHCN-TĐC ngày 12/6/2020 và gửi về Bộ Khoa học và Công nghệ để tổng hợp, đề xuất Thủ tướng Chính phủ việc sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với tình hình thực tế.

Nguồn: Báo cáo chuyên đề của Bộ Khoa học và Công nghệ tổng kết Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 - 2020 của Ban Chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ