Tin Video

Phóng sự: Đô thị thông minh

Thống kê truy cập

Lượt truy cập : 34.646.800

Khách Online : 63

Cải cách tài chính công

CẢI CÁCH TÀI CHÍNH CÔNG GIAI ĐOẠN 2011 - 2020

14:39 12/07/2021 | Lượt xem : 2539

  • Xem với cỡ chữ T T
  • Inverts
  • Lượt xem : 2539
1. Thể chế hóa các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và chỉ đạo, điều hành của Chính phủ về cải cách tài chính công giai đoạn 2011 - 2020
Trong thời gian qua, thể chế tài chính - Ngân sách nhà nước tiếp tục được hoàn thiện theo nguyên tắc thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hỗ trợ có kết quả quá trình tái cơ cấu kinh tế và chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Quá trình cải cách thể chế trong lĩnh vực tài chính đã bảo đảm đồng bộ với cải cách thể chế trong các lĩnh vực có liên quan, góp phần thúc đẩy các yếu tố thị trường và các loại thị trường phát triển, bảo đảm quyền tự do kinh doanh và bình đẳng giữa các thành phần kinh tế; động viên hợp lý, phân phối và sử dụng tiết kiệm, chặt chẽ, hiệu quả hơn các nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội; đơn giản hóa thủ tục hành chính; nâng cao kỷ luật, kỷ cương tài chính - ngân sách; tiếp cận thông lệ quốc tế… Từ năm 2010 đến nay, ngành Tài chính đã chủ trì soạn thảo trình Chính phủ trình Quốc hội cho ý kiến và thông qua 25 dự án luật; 14 Nghị quyết của Quốc hội; 10 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; đồng thời, đã trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành khoảng 250 nghị định, 170 quyết định và ban hành theo thẩm quyền gần 2.000 thông tư, thông tư liên tịch. 
Trong đó, giai đoạn 2011 - 2015, việc hoàn thiện thể chế tập trung vào ổn định kinh tế vĩ mô; quản lý giá theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước; phát triển đồng bộ các thị trường vốn, thị trường dịch vụ kế toán, kiểm toán, sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước; tạo môi trường đầu tư thuận lợi, bình đẳng, tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, thu hút đầu tư nước ngoài; thúc đẩy hội nhập; phát triển an sinh xã hội, xóa đói, giảm nghèo; đẩy mạnh hiện đại hóa và cải cách hành chính. Giai đoạn 2016 - 2020, tập trung vào việc hoàn thiện thể chế tài chính theo cơ chế thị trường, thúc đẩy đổi mới mô hình tăng trưởng, đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế, cơ cấu lại ngân sách và nợ công, đổi mới khu vực sự nghiệp công, tinh gọn bộ máy hành chính hiệu lực, hiệu quả; đẩy mạnh cơ chế khoán, đấu thầu, đặt hàng, triển khai các kế hoạch trung hạn, tăng cường công khai, minh bạch tài chính, hướng tới phát triển bền vững. Cụ thể:
1.1. Về huy động nguồn lực công
Chính sách động viên ngân sách nhà nước tiếp tục được hoàn thiện, nhờ đó, đã động viên hợp lý, kịp thời các nguồn lực từ sản xuất và các nguồn lực từ tài nguyên, đất đai. Đến nay, cơ bản hoàn thành việc sửa đổi, bổ sung và ban hành các luật về thuế và Luật Hải quan, các nghị định, thông tư hướng dẫn thi hành các luật về thuế, Luật Hải quan theo lộ trình đề ra. Đã trình Quốc hội thông qua Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt, Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; Luật Hải quan... Đồng thời, đã kịp thời hướng dẫn và tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả một số chính sách mới như Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp; Luật Thuế bảo vệ môi trường; Luật Phí và lệ phí. 
Các chính sách thuế, phí, lệ phí ban hành về cơ bản đã đảm bảo minh bạch, đơn giản, phù hợp với các cam kết về hội nhập quốc tế, góp phần tạo môi trường đầu tư ổn định, hấp dẫn, bình đẳng giữa các thành phần kinh tế. Bên cạnh đó, chính sách động viên cũng kịp thời tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp (thông qua việc giảm, gia hạn một số khoản thu ngân sách theo Nghị quyết Quốc hội, Chính phủ và Luật sửa đổi, bổ sung các luật về thuế…). Việc thực hiện điều chỉnh giảm mức độ động viên trong một số sắc thuế, khoản thu đã góp phần quan trọng trong việc nâng cao tính hấp dẫn của môi trường đầu tư, tạo điều kiện cho doanh nghiệp và người dân có thêm nguồn lực cho đầu tư và tiêu dùng, góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển. Bên cạnh đó, việc sửa đổi các chính sách thuế còn góp phần xác định lại phạm vi thu ngân sách; mở rộng diện thu, cơ sở thu; điều tiết hợp lý hơn thu nhập; điều tiết hành vi theo hướng khuyến khích sử dụng tiết kiệm hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường. Bộ Tài chính cũng đã trình Chính phủ, trình Quốc hội ban hành Luật phí, lệ phí theo hướng chuyển mạnh nhiều loại phí sang quản lý theo cơ chế giá, thúc đẩy xã hội hóa, khuyến khích huy động, sử dụng nguồn lực hiệu quả hơn. Sửa đổi, bổ sung và ban hành các chính sách thu theo nguyên tắc thống nhất, đồng bộ, đơn giản hóa thủ tục, dễ thực hiện; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, quản lý rủi ro; nâng cao ý thức tự giác tuân thủ pháp luật của người nộp thuế. Ngoài ra còn đẩy mạnh hội nhập, tiếp cận các thông lệ quốc tế tốt.
Trong khai thác nguồn lực tài chính từ đất đai, tài nguyên, căn cứ Luật Đất đai, Luật Tài nguyên nước, Luật tài nguyên.., Bộ Tài chính đã ban hành theo thẩm quyền và trình Thủ tướng Chính phủ, Chính phủ sửa đổi, bổ sung các chính sách tài chính từ đất đai: thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, thuê mặt nước; đấu giá quyền sử dụng đất; góp vốn liên doanh bằng giá trị quyền sử dụng đất; sắp xếp lại, xử lý nhà, đất thuộc sở hữu nhà nước; xác định giá trị quyền sử dụng đất để giao vốn, tài sản cho đơn vị sự nghiệp công lập. Ngoài ra, đã trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội điều chỉnh mức thuế suất thuế tài nguyên đối với một số nhóm tài nguyên, khoáng sản nhằm nâng cao hiệu quả khai thác nguồn lực tài nguyên thiên nhiên, đồng thời động viên thêm nguồn lực cho ngân sách nhà nước.
1.2. Về phân bổ, sử dụng nguồn lực công
Chính sách phân bổ và sử dụng các nguồn lực tài chính tiếp tục được hoàn thiện gắn với quá trình tái cơ cấu nền tài chính quốc gia, đảm bảo thực hiện phân bổ các nguồn lực tài chính nhà nước theo hướng minh bạch, ưu tiên cho những nhiệm vụ quan trọng, các vùng, đối tượng còn nhiều khó khăn, mở rộng hệ thống an sinh xã hội. Đã xây dựng và trình Quốc hội thông qua một số dự án luật quan trọng như Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Luật Dự trữ quốc gia; Luật Ngân sách nhà nước (2015); Luật Quản lý, sử dụng tài sản công... Trong đó, Luật Ngân sách nhà nước (2015) đã xác định phạm vi chi ngân sách, chi đầu tư công, cơ cấu lại chi đầu tư công, chi ngân sách; triển khai kế hoạch tài chính trung hạn; đổi mới phương thức quản lý ngân sách nhà nước (đẩy mạnh thực hiện khoán, đấu thầu, đặt hàng; đẩy mạnh yêu cầu đổi mới khu vực sự nghiệp công; đơn giản hóa thủ tục kiểm soát, thanh toán các khoản chi ngân sách nhà nước; tăng cường quản lý quỹ ngoài ngân sách nhà nước), siết chặt kỷ cương, kỷ luật tài chính - ngân sách; tăng cường phân cấp, phân quyền gắn với công khai, minh bạch; xây dựng các cơ chế đặc thù cho các thành phố lớn thông qua việc trình Quốc hội ban hành nghị quyết về thí điểm cơ chế, chính sách đặc thù phát triển Thủ đô Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, trình Chính phủ ban hành đồng bộ, kịp thời các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Ngân sách nhà nước năm 2015, các nghị định về cơ chế đặc thù về đầu tư, tài chính, ngân sách và phân cấp quản lý đối với các thành phố: Cần Thơ, Hải Phòng, Đà Nẵng. Qua đó, tiếp tục đẩy mạnh và tăng cường phân cấp quản lý ngân sách nhà nước, bảo đảm tính thống nhất của ngân sách nhà nước và vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương; đồng thời, phát huy tính chủ động của ngân sách các cấp chính quyền địa phương; nâng cao tính minh bạch, công khai trong quản lý ngân sách nhà nước. Hiện nay, Bộ Tài chính đang tiến hành rà soát các quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước, trong đó tập trung rà soát, nghiên cứu các quy định về phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi để đảm bảo vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương trong giai đoạn tới.
Trong thực hiện cơ cấu lại ngân sách nhà nước, trên cơ sở Nghị quyết số 07-NQ/TW và Nghị quyết số 25/2016/QH14 ngày 09/11/2016 của Quốc hội, việc phân bổ ngân sách nhà nước đã được cơ cấu lại theo hướng tăng dần tỷ lệ chi đầu tư và giảm tỷ trọng chi thường xuyên. Bộ Tài chính đã phối hợp với các bộ, ngành liên quan rà soát các chính sách chi ngân sách nhà nước cho an sinh xã hội, chi ngân sách nhà nước theo các lĩnh vực, tăng cường quản lý quỹ ngoài ngân sách nhà nước. 
Bộ Tài chính cũng đã phối hợp chặt chẽ với Bộ Kế hoạch và Đầu tư trong xây dựng Đề án cơ cấu lại đầu tư công giai đoạn 2017 - 2020 và một số định hướng đến năm 2025 trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; phối hợp tham gia ý kiến với Bộ Kế hoạch và Đầu tư trong xây dựng Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư công và các nghị định hướng dẫn liên quan nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư công; phối hợp thực hiện cơ cấu lại đầu tư công trên cơ sở các ưu tiên chiến lược, xây dựng và triển khai kế hoạch đầu tư công trung hạn và hàng năm; tham gia xây dựng văn bản quy định về khuyến khích đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP) nhằm thúc đẩy xã hội hóa hoạt động đầu tư... Ngoài ra, để nâng cao chất lượng phân bổ vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước, Bộ Tài chính đã phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư xây dựng trình các cơ quan có thẩm quyền ban hành nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ vốn đầu tư phát triển giai đoạn 2016 - 2020; Chỉ thị tăng cường quản lý đầu tư và xử lý nợ đọng xây dựng cơ bản từ nguồn ngân sách nhà nước, trái phiếu Chính phủ và Chỉ thị về tăng cường các biện pháp xử lý nợ đọng xây dựng cơ bản nguồn vốn đầu tư công. Bên cạnh đó, Bộ Tài chính cũng chủ động rà soát, xây dựng, hoàn thiện và ban hành các quy định về quản lý, thanh toán vốn đầu tư sử dụng vốn ngân sách nhà nước; quyết toán dự án hoàn thành thuộc nguồn vốn nhà nước; quản lý tài chính đối với dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư và chi phí lựa chọn nhà đầu tư…
1.3. Về cơ cấu lại nợ công, đảm bảo an ninh, an toàn nền tài chính công
Trong thời gian qua, các thể chế, chính sách pháp luật trong lĩnh vực quản lý nợ công đã được hoàn thiện và đổi mới, từng bước tiếp cận các thông lệ quốc tế. Bộ Tài chính đã tham mưu trình Chính phủ, trình Quốc hội thông qua Luật Quản lý nợ công lần đầu tiên năm 2009 và tiếp tục sửa đổi năm 2017 (có hiệu lực ngày 01/7/2018), là bước thay đổi quan trọng, góp phần hoàn thiện chính sách quản lý, tạo cơ sở pháp lý đồng bộ giữa quản lý nợ công, ngân sách và đầu tư công. Trong đó, đã từng bước điều chỉnh công tác quản lý và giám sát nợ công theo nguyên tắc thị trường, thống nhất, kiểm soát các khoản vay về cho vay lại, cấp và quản lý bảo lãnh Chính phủ; tăng cường công khai, minh bạch trong quản lý nợ công. Theo đó, để triển khai thực hiện Luật Quản lý nợ công năm 2017 có hiệu quả, Bộ Tài chính đã tham mưu trình Chính phủ ban hành 07 nghị định, đồng thời đã ban hành 10 thông tư, 02 quyết định hướng dẫn Luật Quản lý nợ công (sửa đổi). Các văn bản này đã góp phần tạo khung khổ pháp lý đầy đủ cho việc tổ chức phát hành công cụ nợ để đáp ứng nhu cầu huy động vốn cho ngân sách nhà nước với mức chi phí - rủi ro hợp lý, thực hiện các nghiệp vụ tái cơ cấu danh mục nợ công một cách chủ động, hiệu quả trong khi vẫn đảm bảo an toàn nợ công, an ninh tài chính quốc gia.
Cùng với việc hoàn thiện khuôn khổ thể chế, chính sách quản lý nợ công, việc nghiên cứu, xây dựng và áp dụng đầy đủ, đồng bộ các công cụ và nghiệp vụ quản lý nợ công được chú trọng. Trong đó, bao gồm xây dựng các chỉ tiêu an toàn nợ công, kế hoạch vay, trả nợ công 05 năm và hàng năm cũng như chương trình quản lý nợ công 3 năm nhằm gắn kết với các kế hoạch về ngân sách nhà nước và đầu tư công. Việc xây dựng, ban hành và triển khai các công cụ nợ này trong giai đoạn 2011 - 2019 đã phát huy tác dụng và khẳng định sự cần thiết đối với quản lý nợ chủ động. Ngoài ra, Bộ Tài chính còn phối hợp với các tổ chức tài chính quốc tế trong việc xây dựng chiến lược quản lý nợ trung hạn và phân tích bền vững nợ, đảm bảo an ninh tài chính quốc gia.
1.4. Về chính sách tiền lương và chính sách xã hội
Thực hiện các chủ trương, định hướng của Đảng về cải cách chính sách tiền lương, chính sách xã hội giai đoạn 2011 - 2020, Chính phủ đã thực hiện chế độ phụ cấp công vụ đối với cán bộ, công chức, người hưởng lương hoặc phụ cấp quân hàm từ ngân sách nhà nước; điều chỉnh mức lương cơ sở áp dụng cho cán bộ, công chức, viên chức, người hưởng lương, phụ cấp và người lao động hưởng lương từ ngân sách tùy theo điều kiện ngân sách hàng năm; đồng thời điều chỉnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hàng tháng và trợ cấp, phụ cấp ưu đãi người có công; nâng mức trợ giúp xã hội đối với các đối tượng bảo trợ xã hội… 
Nhìn chung, việc điều chỉnh chính sách tiền lương được thực hiện theo nguyên tắc chỉ điều chỉnh mức lương cơ sở và ban hành chính sách, chế độ mới đối với khu vực công khi đã bố trí đủ nguồn lực; không ban hành mới các chế độ phụ cấp theo nghề, triển khai xây dựng danh mục vị trí việc làm tạo cơ sở cho việc trả lương. Ngày 09/11/2016, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết về kế hoạch tài chính 5 năm, trong đó có nội dung tăng mức lương cơ sở tối thiểu trung bình 7%/năm giai đoạn 2016 - 2020. Tính đến ngày 01/7/2020, mức lương cơ sở của người lao động trong khu vực công đạt 1.490.000 đồng/tháng, bằng 204% so với mức lương cơ sở năm 2011 (730.000 đồng/tháng).
Ngoài ra, để đảm bảo an sinh xã hội, giảm nghèo, phát triển đồng đều giữa các vùng, thu hẹp khoảng cách giàu - nghèo, Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các Bộ, ngành có liên quan đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ từ ngân sách nhà nước nhằm mở rộng độ bao phủ của hệ thống bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế; chính sách giảm nghèo áp dụng đối với các khu vực đặc biệt khó khăn, miền núi, vùng sâu, vùng xa; chính sách khám chữa bệnh cho người nghèo, chính sách miễn, giảm học phí, chính sách đào tạo nghề, tạo việc làm, chính sách hỗ trợ nhà ở, đất ở, đất sản xuất, chính sách tín dụng ưu đãi, hỗ trợ giống cây trồng, vật nuôi… đối với người nghèo. Bên cạnh đó, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ cũng đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ nhằm đảm bảo người dân, đặc biệt là người nghèo, tiếp cận với các dịch vụ xã hội cơ bản như giáo dục đào tạo, y tế và chăm sóc sức khỏe, nhà ở, trợ giúp pháp lý…
1.5. Về đổi mới cơ chế đối với cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp công
Bộ Tài chính đã tham mưu trình Chính phủ ban hành Nghị định số 117/2013/NĐ-CP ngày 07/10/2013 sửa đổi, bổ sung Nghị định số 130/2005/NĐ-CP ngày 17/10/2005 quy định chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với các cơ quan nhà nước. So với Nghị định số 130/2005/NĐ-CP, Nghị định số 117/2013/NĐ-CP đã mở rộng thêm đối tượng thực hiện chế độ tự chủ đối với Ủy ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn; quy định rõ các khoản kinh phí được giao để thực hiện chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm; quyền của cơ quan thực hiện tự chủ trong việc sử dụng kinh phí được giao tự chủ; quy định rõ hơn về phạm vi kinh phí tiết kiệm và sử dụng kinh phí tiết kiệm… Khoản kinh phí tiết kiệm được được sử dụng chủ yếu cho mục đích tăng thu nhập cho cán bộ, công chức thông qua việc chi trả thu nhập tăng thêm, chi khen thưởng, chi cho các hoạt động phúc lợi tập thể, lập Quỹ dự phòng ổn định thu nhập… Cơ chế này khuyến khích những người làm việc hiệu quả, đồng thời khắc phục được những hạn chế nhằm tạo điều kiện cho các cơ quan chủ động hơn nữa trong việc sử dụng kinh phí quản lý hành chính, là động lực để các cán bộ, công chức trong các cơ quan hành chính Nhà nước thực hành, tiết kiệm chống lãng phí kinh phí quản lý hành chính. 
Đồng thời, Bộ Tài chính cũng đã xây dựng trình Chính phủ ban hành khung pháp lý về đổi mới khu vực sự nghiệp công theo chủ trương, định hướng của Đảng, Nhà nước. Theo đó, hệ thống các văn bản pháp luật quy định về tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập, trong đó có tự chủ về tài chính, đã từng bước được hoàn thiện theo hướng đẩy mạnh giao quyền tự chủ tài chính cho các đơn vị sự nghiệp công lập; thay đổi phương thức hỗ trợ từ ngân sách nhà nước thông qua đặt hàng, giao nhiệm vụ cho các đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện hoặc đấu thầu gắn với số lượng, chất lượng sản phẩm dịch vụ sự nghiệp công được cung cấp, tạo cơ hội cho các tổ chức, cá nhân ngoài nhà nước tham gia cung ứng dịch vụ sự nghiệp công. Ngân sách nhà nước chỉ đảm bảo kinh phí thường xuyên đối với đơn vị được Nhà nước giao dự toán theo nhiệm vụ trên cơ sở số lượng người làm việc được cấp có thẩm quyền phê duyệt và định mức phân bổ dự toán được cấp có thẩm quyền quyết định. Trên cơ sở đó, các bộ đã trình cấp có thẩm quyền hoặc ban hành theo thẩm quyền cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập trong một số lĩnh vực; các Bộ, địa phương cũng đã trình cấp có thẩm quyền và ban hành theo thẩm quyền quy hoạch mạng lưới đơn vị sự nghiệp công lập theo ngành, lĩnh vực; danh mục dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước thuộc ngành, lĩnh vực và phạm vi quản lý của bộ, địa phương; sửa đổi hoặc ban hành mới các quy định về định mức kinh tế kỹ thuật, định mức chi phí, giá dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước; tiêu chí, tiêu chuẩn đánh giá chất lượng dịch vụ sự nghiệp công…
1.6. Về đẩy mạnh xã hội hóa, hoàn thiện thể chế và tăng cường các biện pháp khuyến khích đầu tư theo hình thức đối tác công tư
Bộ Tài chính đã trình Chính phủ đã ban hành Nghị định số 69/2008/NÐ-CP ngày 30/5/2008 về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường và Nghị định số 59/2014/NĐ-CP ngày 16/6/2014 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 69/2008/NÐ-CP. Căn cứ quy định tại Nghị định số 69/2008/NÐ-CP, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành các quyết định về danh mục chi tiết các loại hình, tiêu chí quy mô, tiêu chuẩn của các cơ sở thực hiện xã hội hóa trong lĩnh vực giáo dục đào tạo, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi truờng. Đồng thời, Bộ đã ban hành các thông tư hướng dẫn để triển khai thực hiện Nghị định số 69/2008/NÐ-CP và Nghị định số 59/2014/NĐ-CP.
Để khuyến khích đầu tư của xã hội tham gia cung cấp các dịch vụ sự nghiệp công (giáo dục đào tạo, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường...), Nghị định số 69/2008/NÐ-CP và Nghị định số 59/2014/NĐ-CP đã quy định các chính sách ưu đãi về giao đất, cho thuê đất, về chính sách thuế, về tín dụng đối với các cơ sở xã hội hóa và điều kiện được hưởng các chính sách khuyến khích xã hội hóa. Cơ chế, chính sách khuyến khích xã hội hóa (chính sách thuế, tín dụng, đất đai, đầu tư...) đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường; tiêu chí quy mô, tiêu chuẩn của các cơ sở thực hiện xã hội hóa đã được nghiên cứu, hoàn thiện để bảo đảm phù hợp với yêu cầu thực hiện xã hội hóa và điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước. Bên cạnh đó, việc ban hành quy định về điều kiện đơn vị sự nghiệp công lập được chuyển thành công ty cổ phần cũng góp phần đẩy mạnh xã hội hóa việc cung cấp dịch vụ sự nghiệp công.
1.7. Về đổi mới cơ chế, chính sách tài chính đối với doanh nghiệp nhà nước
Trong thời gian qua, các cơ chế, chính sách về quản lý tài chính doanh nghiệp và sắp xếp, cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước đã được ban hành đầy đủ, đồng bộ và được điều chỉnh, bổ sung để phù hợp với thực tiễn hoạt động của doanh nghiệp và tình hình thị trường, thúc đẩy tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, bảo đảm ngăn chặn thất thoát vốn, tài sản nhà nước, tạo minh bạch trong công tác quản lý tài chính doanh nghiệp nhà nước. Bộ Tài chính đã trình Quốc hội thông qua Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp; đã trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành các nghị định, quyết định nhằm đổi mới tổ chức, quản lý hoạt động của doanh nghiệp nhà nước, thực hiện tái cơ cấu, cổ phần hóa và thoái vốn tại doanh nghiệp. Đồng thời, phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan trình Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ ban hành các văn bản pháp luật để tổ chức quản lý doanh nghiệp và tổ chức sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp. Định kỳ hàng quý, hàng năm, Bộ Tài chính tổng hợp báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ tình hình cổ phần hóa, thoái vốn, cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước trên phạm vi toàn quốc theo phân công của Thủ tướng Chính phủ. Nhờ đó, hệ thống các doanh nghiệp nhà nước tiếp tục được đổi mới, sắp xếp lại, cơ cấu lại đã góp phần phát triển và nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước. Đã hình thành các tổng công ty và một số tập đoàn kinh tế ở những lĩnh vực quan trọng, có ý nghĩa quyết định đối với nền kinh tế. Đồng thời, đã thu hẹp những lĩnh vực độc quyền nhà nước. Các doanh nghiệp nhà nước đã được tinh giản về số lượng và từng bước nâng cao hiệu quả hoạt động.
Nhìn chung, trong thời gian qua, đã cơ bản hoàn thiện các thể chế về quản lý tài chính doanh nghiệp, về chế độ kiểm toán doanh nghiệp, tạo hành lang pháp lý cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các loại hình doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp nhà nước, đã hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính và sắp xếp, cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp phù hợp với thực tiễn hoạt động của doanh nghiệp; đổi mới tổ chức, quản lý và hoạt động đối với doanh nghiệp nhà nước, theo Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp, Luật Doanh nghiệp năm 2014 và các Nghị quyết của Trung ương. Quản lý chặt chẽ việc định giá trị doanh nghiệp, áp dụng nguyên tắc thị trường trong cổ phần hoá và thoái vốn, tăng cường công khai, minh bạch, gắn cổ phần hóa với niêm yết trên thị trường chứng khoán, chống thất thoát, tham nhũng trong quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước; xử lý nghiêm các sai phạm, thu hồi tài sản Nhà nước; thành lập, đưa vào hoạt động Ủy ban quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp.
1.8. Công tác xây dựng thể chế cho việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí
Quan điểm, chủ trương của Đảng về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí đã được thể chế hoá bằng quy định của pháp luật và ngày càng được hoàn thiện hơn. Theo quy định tại Hiến pháp năm 2013: “Cơ quan, tổ chức, cá nhân phải thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, phòng chống tham nhũng trong hoạt động kinh tế - xã hội và quản lý nhà nước.”; Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí: “Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí là nhiệm vụ thường xuyên từ chủ trương, đường lối, cơ chế chính sách đến tổ chức thực hiện gắn với kiểm tra, giám sát”.
 Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí hiện hành quy định về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước, vốn nhà nước, tài sản nhà nước, lao động, thời gian lao động trong khu vực nhà nước; quản lý, khai thác và sử dụng tài nguyên; hoạt động sản xuất kinh doanh và tiêu dùng của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân. Trong đó, quy định về nội dung, yêu cầu thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, hành vi vi phạm, gây lãng phí trong một số lĩnh vực, gồm: ban hành, thực hiện định mức, tiêu chuẩn, chế độ; lập, thẩm định, phê duyệt dự toán, quyết toán, quản lý, sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước; mua sắm, sử dụng phương tiện đi lại và phương tiện, thiết bị làm việc của cơ quan, tổ chức trong khu vực nhà nước; đầu tư xây dựng; quản lý, sử dụng trụ sở làm việc, nhà ở công vụ và công trình phúc lợi công cộng; quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên; tổ chức bộ máy, quản lý, sử dụng lao động và thời gian lao động trong khu vực nhà nước; quản lý, sử dụng vốn và tài sản nhà nước tại doanh nghiệp và nội dung, nguyên tắc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong sản xuất kinh doanh và tiêu dùng của Nhân dân.
Để triển khai thực hiện Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2013, Bộ Tài chính đã trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành một hệ thống các văn bản và ban hành theo thẩm quyền nhiều văn bản hướng dẫn hướng dẫn thực hiện Luật. Các văn bản này đã tạo cơ sở pháp lý cho việc thực hiện Luật, đảm bảo thuận lợi cho các cơ quan, đơn vị chủ động thực hiện.
Bên cạnh đó, Bộ Tài chính luôn chủ động xây dựng trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Chương trình tổng thể của Chính phủ về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí hàng năm và dài hạn, trong đó yêu cầu thực hành tiết kiệm, chống lãng phí phải được tiến hành đồng bộ với các hoạt động cải cách hành chính, tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật, phải phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và tình hình thực tiễn của Bộ, ngành, địa phương. Đồng thời, các cấp, các ngành phải thực hiện rà soát, hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, định mức, chế độ làm cơ sở cho thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Chương trình tổng thể của Chính phủ về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí được xây dựng, ban hành làm căn cứ cho các Bộ, ngành, địa phương xây dựng Chương trình về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí thuộc lĩnh vực và phạm vi quản lý; đưa thực hành tiết kiệm, chống lãng phí thành nhiệm vụ thường xuyên của các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương và từng cơ quan, đơn vị, tổ chức. 
Nhờ đó, hệ thống pháp luật chuyên ngành trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội, các tiêu chuẩn nhà nước, tiêu chuẩn ngành, định mức, quy chuẩn kỹ thuật trong các ngành, lĩnh vực đã được hình thành đồng bộ, ngày càng hoàn thiện hơn, thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, tạo hành lang pháp lý để quản lý, khai thác, sử dụng các nguồn lực của đất nước tiết kiệm, hiệu quả hơn, nhất là trong các lĩnh vực quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước, vốn nhà nước, tài sản công, quản lý đất đai, tài nguyên, năng lượng, bảo vệ môi trường, quản lý cán bộ, công chức… Hệ thống tiêu chuẩn, định mức, chế độ, quy chuẩn kỹ thuật trong các ngành, lĩnh vực được hoàn thiện và phù hợp hơn với yêu cầu thực tế, dễ tiếp cận, tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức và là cơ sở quan trọng để thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong quản lý, sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước, vốn, tài sản của nhà nước, tài nguyên, thời gian lao động, nguồn nhân lực.
2. Tồn tại, hạn chế
Thứ nhất, về huy động nguồn lực công, hệ thống thu ngân sách nhà nước chưa bền vững, chưa đảm bảo vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương. Tình trạng chuyển giá, trốn thuế gây thất thu ngân sách nhà nước, nhất là khu vực ngoài quốc doanh, khu vực FDI lớn; nợ đọng thuế còn cao; việc quản lý phần thu ngân sách nhà nước từ tiền sử dụng đất, tài sản công còn nhiều bất cập; hiệu quả quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp còn tồn tại, yếu kém, nguồn thu ngân sách nhà nước từ doanh nghiệp nhà nước suy giảm; ưu đãi thu còn dàn trải làm giảm thu ngân sách nhà nước, vừa gây cạnh tranh không lành mạnh, không bình đẳng, tăng chi phí thuế…
Trong thời gian gần đây, số thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh có xu hướng giảm từ 68,3% giai đoạn 2011 - 2015 xuống còn khoảng 62,3% giai đoạn 2016 - 2018 do thực hiện giảm nghĩa vụ thu (như giảm thuế thu nhập doanh nghiệp xuống 20% từ 2016, áp dụng thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp 17% đối với quỹ tín dụng nhân dân, ngân hàng hợp tác xã và tổ chức tài chính vi mô, doanh nghiệp thực hiện dự án đầu tư mới vào các lĩnh vực, địa bàn ưu đãi thuế…).
Dư địa tăng thu ngân sách nhà nước sẽ ngày càng hạn chế bởi các lý do ở trên, số vượt thu ngân sách những năm gần đây chủ yếu là các khoản thu thuộc nguồn thu ngân sách địa phương (các khoản thu nhà, đất tăng) trong khi ngân sách trung ương gặp khó khăn. Công tác quản lý thu chưa theo kịp tình hình thực tế dẫn tới thất thu, đặc biệt là từ khu vực kinh tế ngoài nhà nước.
Thứ hai, về phân bổ, sử dụng nguồn lực công, cơ cấu lại đầu tư công chưa thực sự hiệu quả, phân bổ còn dàn trải, giao vốn và giải ngân chậm; cơ cấu vốn đầu tư còn bất cập, vốn dành cho các công trình do trung ương quản lý theo dự toán năm 2018 chỉ chiếm khoảng 20% tổng chi đầu tư phát triển nguồn ngân sách nhà nước. Tích lũy từ thu thường xuyên cho ngân sách nhà nước thấp (ước năm 2018 là 13%); vốn đầu tư phát triển chủ yếu từ nguồn vay (45%) và tiền sử dụng đất, tiền thoái vốn tại doanh nghiệp (42%). Sử dụng ngân sách và vốn đầu tư công còn lãng phí; nợ đọng xây dựng cơ bản, ứng trước, chuyển nguồn lớn, nợ địa phương lớn.
Trong chi thường xuyên, mặc dù đã được cơ cấu lại theo hướng giảm tỷ trọng nhưng nhìn chung ngân sách nhà nước vẫn đảm bảo phần lớn nhu cầu chi của hầu hết các lĩnh vực sự nghiệp; nhiều chế độ, chính sách còn trùng lặp; cơ cấu lại chi thường xuyên hạn chế do chậm đổi mới khu vực sự nghiệp công; tình trạng chi sai chính sách, chế độ còn xảy ra ở một số lĩnh vực, đơn vị.
Nhìn chung, hiệu quả, hiệu lực chi ngân sách nhà nước thấp, chưa đáp ứng được nhu cầu về chất lượng dịch vụ công. Chi ngân sách dàn trải, chồng chéo phạm vi nhà nước và thị trường, thất thoát, lãng phí chưa được xử lý triệt để. Cơ cấu chi từng ngành, lĩnh vực và trong từng ngành, lĩnh vực chưa hiệu quả, chưa đảm bảo các yêu cầu kinh tế - kỹ thuật, cơ cấu chi theo phân cấp chưa tính tới những khác biệt giữa các đơn vị hành chính cùng cấp, chưa tính tới hiệu quả kinh tế theo quy mô trong cung cấp dịch vụ công, chưa hình thành cơ cấu chi ngân sách theo vùng, miền gắn với quy mô cung cấp các dịch vụ công hiệu quả…
Thứ ba, về cân đối ngân sách và quản lý nợ công, việc triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp đặt ra tại các nghị quyết của Bộ Chính trị, Quốc hội trong thời gian qua đã bước đầu kiểm soát được tốc độ tăng quy mô nợ công, cải thiện cơ cấu rủi ro - chi phí danh mục nợ của Chính phủ song nhiệm vụ đặt ra đối với công tác quản lý nợ công trong thời gian tới còn một số khó khăn và vấn đề đặt ra như sau:
Với việc Việt Nam đã trở thành nước có thu nhập trung bình, tỷ trọng các khoản vay ODA giảm dần, tiến tới chấm dứt, điều kiện huy động vốn vay nước ngoài của Chính phủ có xu hướng kém thuận lợi hơn trước đây, tiệm cận các khoản vay thương mại. Việc phân bổ vốn ODA và vốn vay ưu đãi nước ngoài trong khuôn khổ kế hoạch đầu tư công trung hạn và hàng năm còn có những hạn chế, chưa sát thực tế, phải điều chỉnh nhiều lần là một trong những nguyên nhân chính khiến tốc độ giải ngân vốn vay còn chậm, giảm hiệu quả sử dụng vốn vay cho đầu tư phát triển của toàn xã hội cũng như đóng góp cho tăng trưởng kinh tế của đất nước.
Thị trường vốn, thị trường trái phiếu Chính phủ trong nước tuy đã có những bước phát triển đáng ghi nhận trong giai đoạn vừa qua, song quy mô thị trường nhìn chung còn nhỏ, khả năng hấp thụ vốn để đáp ứng nhu cầu đầu tư của nền kinh tế và của ngân sách nhà nước còn hạn chế. Các công cụ nợ nhìn chung còn thiếu tính đa dạng và việc huy động vốn vay trong nước của Chính phủ còn gặp áp lực nhất định tại một số thời điểm. Việc chỉ phát hành trái phiếu Chính phủ kỳ hạn dài trên 5 năm chưa thực sự phù hợp với nhu cầu đầu tư của các ngân hàng thương mại và gắn liền với chi phí vay cao hơn (công cụ nợ kỳ hạn dài sẽ có lãi suất cao hơn kỳ hạn ngắn); đồng thời thiếu vắng công cụ nợ kỳ hạn ngắn để hoàn thiện đường cong lãi suất chuẩn, qua đó làm cơ sở tham chiếu cho các nhà đầu tư và thành viên thị trường khác. 
Trong giai đoạn tới, nhu cầu huy động vốn vay cho cân đối ngân sách nhà nước và dự báo tiếp tục ở mức cao. Nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của Chính phủ so với tổng thu ngân sách nhà nước đang tăng nhanh và trong năm 2020 có khả năng tiến sát/vượt ngưỡng an toàn được Quốc hội cho phép (25%) trong bối cảnh nguồn thu ngân sách bị ảnh hưởng tiêu cực trước tác động của đại dịch COVID-19. Bên cạnh đó, rủi ro tiềm ẩn từ các khoản nợ dự phòng như các khoản vay trong và ngoài nước của doanh nghiệp được Chính phủ bảo lãnh cần được tăng cường quản lý.
Thứ tư, về tiền lương và chính sách xã hội, việc đổi mới tổ chức và quản lý, cơ chế tài chính đối với khu vực sự nghiệp công lập chưa đáp ứng yêu cầu. Nguồn kinh phí thực hiện cải cách tiền lương cơ bản vẫn do ngân sách nhà nước bảo đảm và chủ yếu từ ngân sách trung ương. Việc điều chỉnh giá, phí dịch vụ công nhiều lĩnh vực còn chậm. Chưa có cơ chế tiền thưởng gắn với kết quả thực hiện nhiệm vụ… Vì thế, chính sách tiền lương trong khu vực Nhà nước hiện nay chưa trở thành động lực mạnh mẽ thúc đẩy và khuyến khích cán bộ, công chức Nhà nước làm việc, tăng năng suất lao động, chưa tạo điều kiện để thu hút người tài, người lao động có trình độ cao vào làm việc trong khu vực nhà nước. 
Hệ thống khuôn khổ pháp lý về chính sách xã hội chưa đồng bộ; các chính sách, chương trình được ban hành dựa trên vấn đề và nhóm đối tượng mới phát sinh mà không theo một chiến lược và tầm nhìn tổng thể, dài hạn. Các chính sách giảm nghèo hiện nay quá nhiều và dàn trải trong khi nguồn lực ngân sách có hạn, làm giảm hiệu quả của chính sách. Kết quả giảm nghèo chưa bền vững, tỷ lệ hộ cận nghèo, tái nghèo còn cao, đặc biệt là ở các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa. Thu nhập của người nghèo chưa đáp ứng được nhu cầu mức sống tối thiểu. 
Mức trợ cấp hàng tháng, trợ cấp nuôi dưỡng đối với các đối tượng bảo trợ xã hội còn thấp, chưa bảo đảm mức sống tối thiểu; bên cạnh đó, đối tượng hưởng trợ cấp hàng tháng ngày càng mở rộng đối với người từ đủ 80 tuổi trở lên không có lương hưu, mang tính cào bằng, chưa phân biệt giữa người nghèo và người có mức sống cao, khá giả. 
Việc điều chỉnh tiền lương hưu thường được tiến hành đồng thời với thời điểm điều chỉnh mức lương cơ sở của khu vực hành chính sự nghiệp, tạo áp lực cân đối ngân sách nhà nước, chưa căn cứ vào khả năng tăng trưởng của quỹ bảo hiểm xã hội và chưa thực hiện điều chỉnh lương hưu độc lập với tiền lương người đang làm việc theo Kết luận số 63-KL/TW ngày 27/5/2013 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI và Luật Bảo hiểm xã hội. 
Thứ năm, về đổi mới cơ chế tài chính đối với cơ quan hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập, trong phát triển đơn vị sự nghiệp và cung cấp dịch vụ công, việc đổi mới cơ chế tài chính của các đơn vị sự nghiệp công lập còn nhiều hạn chế, bất cập. Việc thực hiện tự chủ tài chính nhìn chung còn chậm, mức độ tự chủ chưa cao, đặc biệt ở các địa phương; nguồn thu sự nghiệp còn thấp, chủ yếu vẫn là ngân sách nhà nước cấp phát; chưa có bước chuyển biến mang tính đột phá; chưa thực sự đồng bộ về tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế với tự chủ về tài chính. Hầu hết các lĩnh vực dịch vụ sự nghiệp công chưa tính đủ chi phí vào giá, dẫn đến khó khăn cho các đơn vị sự nghiệp công lập khi thực hiện cơ chế tự chủ tài chính. Các định mức kinh tế kỹ thuật còn thiếu, khó khăn trong việc xác định đơn giá đặt hàng, đấu thầu cũng như triển khai trong quản lý. Phương thức đấu thầu còn ít được áp dụng và chưa thực sự phát huy hiệu quả; việc giao nhiệm vụ, đặt hàng được thực hiện theo đơn giá dự toán, không sát thực tế, có trường hợp dẫn đến thất thoát, lãng phí. Các cơ chế, chính sách thúc đẩy xã hội hóa chưa đủ mạnh; còn chạy theo số lượng mà chưa quan tâm nhiều đến chất lượng. Việc chuyển đổi đơn vị sự nghiệp công lập thành công ty cổ phần còn nhiều bất cập, lúng túng.
Thứ sáu, về xã hội hóa, hoàn thiện thể chế và tăng cường các biện pháp khuyến khích đầu tư theo hình thức công - tư (PPP) đối với việc cung cấp dịch vụ công trong y tế, giáo dục -  đào tạo, văn hóa, thể thao, các công trình, dự án cơ sở hạ tầng. Công tác xã hội hóa hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá và thể dục thể thao chưa đảm bảo định hướng đã đề ra, kết quả đạt được còn ít và thiếu vững chắc so với tiềm năng. Tiến độ thực hiện chuyển đổi cơ sở công lập, bán công sang loại hình ngoài công lập hoặc doanh nghiệp còn chậm. Mức độ phát triển xã hội hóa không đồng đều giữa các vùng, miền và cả giữa các địa phương có điều kiện kinh tế - xã hội như nhau. Cơ chế, chính sách đầu tư, thu hút các nguồn lực của xã hội để phát triển các cơ sở dịch vụ công ngoài công lập chưa đủ mạnh; các chính sách đòn bẩy kinh tế như thuế, tín dụng, đất đai, chế độ tiền lương, bảo hiểm xã hội chưa được triển khai thực hiện đồng bộ và nhất quán để thúc đẩy sự phát triển của hệ thống các cơ sở dịch vụ ngoài công lập. Công tác chỉ đạo tổ chức thực hiện thiếu kiên quyết, sự phối hợp giữa các bộ, ngành và các địa phương chưa chặt chẽ.
Các doanh nghiệp trong khu vực tư nhân thường chú trọng đến lợi nhuận nhiều hơn nên có xu hướng đẩy cao giá dịch vụ, các loại phí dịch vụ bị điều chỉnh tùy tiện, chất lượng dịch vụ không tương xứng, cơ chế tài chính không minh bạch, nhiều cơ sở tư nhân được thành lập tự phát khó kiểm soát được chất lượng. Tất cả đang đặt ra vấn đề về kiểm soát chất lượng đối với các dịch vụ được khối tư nhân cung ứng cho xã hội. 
Nguồn lực huy động cho việc cung cấp dịch vụ công trong y tế, giáo dục - đào tạo, văn hóa, thể thao, các công trình, dự án cơ sở hạ tầng và đầu tư theo hình thức công - tư còn hạn chế. Nhiều địa phương chưa bố trí được đất “sạch” cho các nhà đầu tư để thực hiện dự án xã hội hóa trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ công, ngoài ra, các dự án xã hội hóa tập trung chủ yếu ở các khu vực đô thị, đông dân cư, trong khi đó các vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo số lượng các dự án xã hội hóa được triển khai rất thấp. Bên cạnh đó, các dự án xã hội hóa tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực, ngành nghề đòi hỏi ít vốn, chi phí đầu tư thấp.
Thứ bảy, về đổi mới cơ chế, chính sách tài chính đối với doanh nghiệp nhà nước, một số Bộ, ngành, địa phương, tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước còn chưa thực sự nghiêm túc triển khai kế hoạch cổ phần hóa, thoái vốn, cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và chấp hành chế độ báo cáo. Vai trò, nhận thức, trách nhiệm của người đứng đầu doanh nghiệp, đơn vị còn chưa cao, chưa quyết liệt trong việc đổi mới hoạt động của doanh nghiệp, công khai, minh bạch đúng quy định pháp luật, đảm bảo nguyên tắc thị trường, chống lợi ích nhóm trong cổ phần hóa và thoái vốn nhà nước.
Quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước cần có nhiều thời gian để xử lý vướng mắc về tài chính, đất đai, lao động trong giai đoạn trước cổ phần hóa làm kéo dài thời gian thực hiện cổ phần hóa. Đặc biệt là vấn đề xác lập hồ sơ pháp lý đất đai do Ủy ban nhân dân địa phương thực hiện chậm, kéo dài thời gian hơn so với quy định dẫn đến các doanh nghiệp phải điều chỉnh tiến độ cổ phần hóa. Tỷ lệ vốn nhà nước trong phương án cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước còn cao dẫn đến giảm sức hút đối với các nhà đầu tư mua cổ phần, ảnh hưởng đến thành công của việc cổ phần hóa. Việc chậm quyết toán, bàn giao sang công ty cổ phần của các doanh nghiệp cổ phần hóa đã chuyển sang hoạt động dưới hình thức công ty cổ phần làm ảnh hưởng đến công tác bàn giao và thu nộp các khoản về Quỹ hỗ trợ sắp xếp và phát triển doanh nghiệp. Việc bàn giao quyền đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước về SCIC còn chậm, chưa đảm bảo kế hoạch theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ. Nhiều doanh nghiệp chậm đăng ký giao dịch, niêm yết trên thị trường chứng khóa làm ảnh hưởng đến tính công khai, minh bạch của thị trường, chậm đổi mới công tác quản trị doanh nghiệp sau cổ phần theo thông lệ và chuẩn mực của các doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán cũng như hạn chế công tác giám sát của toàn xã hội đối với hoạt động của các doanh nghiệp này.
3. Các bài học kinh nghiệm
Một là, phải thường xuyên quán triệt đầy đủ các đường lối, chủ trương của Đảng trong công tác xây dựng và tổ chức thực hiện các định hướng về cải cách tài chính công đã đề ra. Trong chỉ đạo, điều hành cần coi trọng công tác phân tích, dự báo tình hình để tạo điều kiện chủ động, linh hoạt và ứng phó nhanh với những biến động về kinh tế - tài chính trong và ngoài nước. 
Hai là, coi trọng vai trò của việc tăng cường phối hợp giữa các cơ quan bộ, ngành, địa phương trong việc thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ về cải cách tài chính công. Coi trọng tính cân đối, hiệu quả trong tất cả các khâu huy động, phân bổ, sử dụng các nguồn lực tài chính cho phát triển kinh tế - xã hội. 
Ba là, việc cải cách tài chính công phải được đặt trong tổng thể hoàn thiện thể chế kinh tế với lộ trình, bước đi hài hòa với trình độ, yêu cầu phát triển của nền kinh tế, với thời cơ, thách thức và các cam kết hội nhập; đảm bảo sự đồng bộ từ tư duy, cơ chế, chính sách đến bộ máy và hạ tầng cơ sở vật chất, kỹ thuật. Việc phân cấp, phân quyền, trao quyền tự chủ, tự quyết cho các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp và cá nhân phải đi đôi với hoàn thiện cơ chế, chính sách và tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, giữ vững kỷ luật, kỷ cương tài chính - ngân sách. 
Bốn là, phải giữ vững kỷ luật, kỷ cương tài chính. Đảm bảo gắn kết chặt chẽ cơ chế, chính sách tài chính với các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Việc ban hành các chính sách mới làm tăng chi ngân sách nhà nước phải căn cứ khả năng nguồn lực; kế hoạch đầu tư trung hạn nguồn ngân sách nhà nước phải nằm trong khung cân đối ngân sách nhà nước trong từng giai đoạn.
Năm là, phải tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra chấp hành pháp luật về tài chính, đảm bảo chất lượng của đội ngũ cán bộ làm công tác tài chính, tham mưu xây dựng chính sách; phối hợp đồng bộ vai trò lãnh đạo của Đảng; hiệu quả, hiệu lực của bộ máy hành chính.
4. Mục tiêu, nhiệm vụ cải cách tài chính công giai đoạn 2021 - 2030
Thứ nhất, xây dựng và thực hiện chính sách động viên hợp lý, có sức cạnh tranh nhằm nâng cao môi trường thu hút vốn đầu tư để phát triển kinh doanh của mọi thành phần kinh tế, trong đó, trọng tâm là khu vực kinh tế tư nhân. 
Tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính sách thu đi đôi với cơ cấu lại thu ngân sách nhà nước, hướng đến xây dựng một hệ thống thuế đồng bộ, có cơ cấu bền vững, đảm bảo nhu cầu chi tiêu cần thiết, hợp lý của ngân sách nhà nước. Mở rộng cơ sở thuế, áp dụng mức thuế suất hợp lý, đảm bảo công bằng, bình đẳng về thuế giữa các đối tượng nộp thuế; đảm bảo phù hợp với các cam kết quốc tế; tạo môi trường sản xuất kinh doanh thuận lợi và thúc đẩy đầu tư, đảm bảo lợi ích quốc gia về quyền thu thuế, tạo điều kiện cho người nộp thuế tăng tích tụ, khuyến khích sản xuất kinh doanh phát triển. 
Thực hiện đơn giản hóa hệ thống chính sách ưu đãi thuế thông qua việc rà soát lại các ưu đãi, thu hẹp lại các phạm vi, lĩnh vực, ngành nghề, tránh ưu đãi dàn trải, chỉ tập trung ưu đãi cho những ngành, nghề mũi nhọn hoặc đặc biệt cần khuyến khích hoặc đầu tư vào địa bàn cần ưu đãi. Hạn chế tối đa việc lồng ghép chính sách xã hội trong chính sách miễn, giảm thuế, đảm bảo tính trung lập của thuế. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý thuế, chống thất thoát, gian lận thuế; tăng cường hiệu quả công tác chống chuyển giá.
Tiếp tục rà soát để sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến quản lý, sử dụng tài sản công, đặc biệt là pháp luật về đất đai, định giá, xác định giá trị doanh nghiệp khi cổ phần hóa. Nâng cao hiệu quả sử dụng, khắc phục tình trạng lãng phí nguồn lực đất đai, tài nguyên, khoáng sản… Rà soát, hoàn thiện chính sách tài chính về đất đai, khai thác tài nguyên thiên nhiên. 
Thứ hai, phân phối, quản lý và sử dụng hiệu quả nguồn lực tài chính quốc gia, tài chính công và ngân sách nhà nước. Thực hiện tăng tỷ trọng tiết kiệm tích lũy trong tài chính quốc gia, tài chính công và ngân sách nhà nước để tăng đầu tư xã hội, đầu tư từ tài chính công và ngân sách nhà nước. Thực hiện chỉ bội chi ngân sách nhà nước cho đầu tư phát triển và giảm dần tích cực tỷ lệ bội chi ngân sách nhà nước so GDP, đảm bảo an toàn nợ công, nợ Chính phủ, nợ nước ngoài của quốc gia.
Đổi mới, xây dựng, hoàn thiện thể chế về quản lý ngân sách nhà nước nhằm tăng cường hiệu quả phân bổ, quản lý, sử dụng nguồn lực ngân sách nhà nước với quá trình tái cơ cấu kinh tế. Nâng cao vai trò định hướng của nguồn lực tài chính nhà nước trong phát triển kinh tế - xã hội gắn với thúc đẩy kêu gọi hợp tác theo hình thức PPP, thu hút sự tham gia đầu tư của khu vực tư nhân để tăng nguồn lực đầu tư toàn xã hội, đảm bảo việc phân bổ nguồn lực được định hướng vào các mục tiêu kinh tế - xã hội trong trung và dài hạn đã đặt ra, đồng thời khắc phục tình trạng dàn trải trong phân bổ nguồn lực. Tạo cơ chế tài chính để các địa phương thu hút các nguồn lực cho phát triển phù hợp với quy hoạch, tiềm lực và đặc điểm của từng địa phương. 
Đổi mới phân cấp quản lý ngân sách nhà nước, phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi nhằm mục tiêu đảm bảo vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương. Nghiên cứu đổi mới phương thức phân cấp nguồn thu giữa trung ương và địa phương đối với các sắc thuế chủ yếu, đảm bảo phù hợp với thông lệ quốc tế, phù hợp điều kiện thực tế và yêu cầu phát triển của Việt Nam đến năm 2030. 
Thứ ba, tiếp tục cơ cấu lại nợ công, đảm bảo an ninh, an toàn nền tài chính công. Triển khai nghiệp vụ cơ cấu lại danh mục nợ Chính phủ phù hợp với điều kiện thị trường. Thực hiện nghiêm nguyên tắc vay bù đắp bội chi ngân sách nhà nước chỉ được sử dụng cho đầu tư phát triển, không sử dụng cho chi thường xuyên; cải thiện cân đối ngân sách nhà nước, từng bước tăng tích lũy cho đầu tư phát triển và trả nợ vay.
Tiếp tục cơ cấu nợ theo hướng bền vững. Đẩy mạnh tái cơ cấu danh mục nợ Chính phủ; tăng cường quản trị rủi ro, thực hiện phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi ro nợ công trong kế hoạch tài chính - ngân sách trung hạn và dự toán ngân sách nhà nước hàng năm. Đảm bảo cân đối, bố trí nguồn để trả nợ đầy đủ, đúng hạn các khoản gốc, lãi của Chính phủ; ưu tiên bố trí nguồn tăng thu, tiết kiệm chi cho chi trả nợ để giảm dư nợ Chính phủ, nợ công. 
Kế hoạch đầu tư công trung hạn và hàng năm cần được xây dựng trong khuôn khổ, khả năng cân đối và đảm bảo tính bền vững của chính sách tài khóa. Nâng cao hiệu quả đầu tư công, giảm dần sự tham gia từ ngân sách nhà nước (đặc biệt là các khoản vay của Chính phủ) vào các dự án, xã hội hóa các nguồn lực ngoài nhà nước. 
Kiểm soát chặt chẽ nghĩa vụ nợ dự phòng của ngân sách nhà nước, nợ nước ngoài của doanh nghiệp, tổ chức tín dụng. Chính phủ cho vay lại từ vốn vay ODA, vay ưu đãi nước ngoài; không phát hành trái phiếu Chính phủ trên thị trường vốn quốc tế, vay thương mại nước ngoài để cho vay lại. Kiểm soát các khoản nợ tiềm ẩn có thể phát sinh từ nợ của khu vực các doanh nghiệp, tổ chức tài chính, tín dụng trong nền kinh tế...
Tiếp tục thúc đẩy phát triển thị trường vốn trong nước, thị trường trái phiếu Chính phủ cả về chiều rộng và chiều sâu theo hướng đa dạng hóa công cụ nợ; tiếp tục mở rộng cơ sở nhà đầu tư, ưu tiên phát triển nhà đầu tư dài hạn và thu hút sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài vào thị trường vốn, thị trường trái phiếu.
Thứ tư, đẩy mạnh đổi mới cơ chế tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập cùng với đa dạng hóa nguồn lực xã hội phát triển dịch vụ công. 
Tổ chức thực hiện quyết liệt, đồng bộ các chính sách liên quan đến việc đổi mới cơ chế tài chính các đơn vị sự nghiệp công; hoàn thành việc giao quyền tự chủ toàn diện cho khu vực sự nghiệp công lập trên cơ sở thực hiện tính đúng, tính đủ giá dịch vụ công theo lộ trình, đảm bảo công khai, minh bạch; chuyển một số loại phí, lệ phí sang giá dịch vụ, đồng thời thực hiện chính sách ngân sách nhà nước hỗ trợ trực tiếp cho các đối tượng chính sách, người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số. 
Chuyển mạnh cơ chế cấp phát theo dự toán sang cơ chế thanh toán theo hình thức đặt hàng, đấu thầu các dịch vụ sự nghiệp công nhằm tạo sự cạnh tranh bình đẳng trong cung cấp dịch vụ sự nghiệp công, nâng cao chất lượng và đa dạng hóa dịch vụ sự nghiệp công.
Tăng cường phân cấp và tăng tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ, sử dụng nguồn nhân lực và nguồn lực tài chính gắn với yêu cầu nâng cao trách nhiệm giải trình về kết quả của các đơn vị cung ứng dịch vụ sự nghiệp công.
Tăng cường xã hội hóa cung cấp dịch vụ công; đồng thời, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng trong cung cấp dịch vụ giữa các đơn vị, tổ chức thuộc thành phần kinh tế khác nhau. Hình thành các cơ chế phù hợp để nâng cao tính định hướng của ngân sách nhà nước trong việc thu hút các nguồn lực đầu tư ngoài nhà nước để phát triển các lĩnh vực sự nghiệp công, nhất là sự nghiệp giáo dục đào tạo, y tế, khoa học và công nghệ và văn hóa xã hội.
Thứ năm, thực hiện tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước, đổi mới quản lý vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp. Tiếp tục đẩy mạnh tái cơ cấu doanh nghiệp, trọng tâm là doanh nghiệp nhà nước theo các định hướng đề ra tại các nghị quyết, kết luận của Đảng, Quốc hội. Thu gọn đối tượng doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế, tập trung nguồn lực đầu tư nhà nước vào các doanh nghiệp nhà nước có vị trí quan trọng, gắn với đảm bảo an ninh - quốc phòng. 
Gắn trách nhiệm của các bộ, ngành, địa phương, tập đoàn, tổng công ty nhà nước, nhất là người đứng đầu để đẩy nhanh tiến độ tái cơ cấu, cổ phần hóa, thoái vốn đầu tư ngoài ngành theo phương án được phê duyệt, chú trọng về chất và thu hút sự tham gia của nhà đầu tư chiến lược. 
Nâng cao năng lực quản trị, hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước; thực hiện công khai, minh bạch kết quả hoạt động theo quy định của pháp luật; thực hiện chế độ tiền lương, tiền thưởng gắn với hiệu quả sản xuất kinh doanh; tiếp tục hoàn thiện các quy chế, quy định nội bộ theo quy định tại Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp.
Nâng cao hiệu quả quản lý của chủ sở hữu nhà nước, tiếp tục kiện toàn bộ máy, tổ chức thực hiện quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu theo hướng phân định rõ chức năng, nhiệm vụ của các cấp, các ngành và đơn vị có liên quan phù hợp với yêu cầu thực tiễn của quá trình sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước. Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát đối với hoạt động của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước. 
Hoàn thiện cơ chế quản lý, sử dụng nguồn thu từ chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp công lập và chuyển nhượng vốn nhà nước tại doanh nghiệp cho phù hợp với quy định tại Luật Ngân sách nhà nước.

Nguồn: Báo cáo chuyên đề của Bộ Tài chính tổng kết Chương trình tổng thể cải cách hành chính
nhà nước giai đoạn 2011 - 2020 của Ban Chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ