Tin Video

Phóng sự: Đô thị thông minh

Thống kê truy cập

Lượt truy cập : 34.646.847

Khách Online : 62

CCHC Bộ, ngành

ĐO LƯỜNG SỰ HÀI LÒNG CỦA NGƯỜI DÂN ĐỐI VỚI DỊCH VỤ GIÁO DỤC CÔNG

12:40 09/08/2021 | Lượt xem : 3185

  • Xem với cỡ chữ T T
  • Inverts
  • Lượt xem : 3185

Thực hiện Nghị quyết số 30c/NQ-CP ngày 08/11/2011 của Chính phủ ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 - 2020; Quyết định số 20/QĐ-BCĐCCHC ngày 20/12/2019 của Ban Chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ về việc ban hành kế hoạch tổng kết Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 - 2020, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã thực hiện Đề án đo lường sự hài lòng của người dân đối với dịch vụ giáo dục công gồm các nội dung chính như sau: Tình hình chung xây dựng Đề án; Kết quả triển khai Đề án; Kết luận và kiến nghị nâng cao sự hài lòng của người dân đối với dịch vụ giáo dục công.

Ngày 17/9/2013, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quyết định số 3982/QĐ-BGDĐT về việc phê duyệt Đề án “Xây dựng phương pháp đo lường sự hài lòng của người dân đói với dịch vụ giáo dục công ”. Do đây là một nhiệm vụ mới và lần đầu tiên được triển khai tại Việt Nam, nên để xây dựng được một phương pháp đo lường khoa học, chính xác và đạt hiệu quả cao, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã giao Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam chủ trì. Đồng thời, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chủ trì, tổ chức mời một số chuyên gia có kinh nghiệm trong lĩnh vực này tổ chức nghiên cứu kinh nghiệm trong nước và quốc tế để xây dựng một Đề tài cấp Bộ về nội dung này. Trong đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo yêu cầu khi thực hiện, Viện Khoa học Giáo dục Việt nam cần phải xác định đối tượng, quy mô mẫu điều tra xã hội học cho từng dịch vụ giáo dục công theo yêu cầu; xây dựng bộ câu hỏi điều tra xã hội học và chủ trì tổ chức điều tra xã hội học để đo lường sự hài lòng của người dân, tổ chức đối với quy mô cả nước; và biên soạn tài liệu hướng dẫn và tổ chức tập huấn.

Trong quá trình thực hiện Đề tài nghiên cứu, Bộ cũng đã thành lập nhóm công tác về kỹ thuật của Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, đồng thời mời những chuyên gia có kinh nghiệm trong nước (Vụ Cải cách hành chính - Bộ Nội vụ, Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội, các chuyên gia nghiên cứu về chính sách công có nhiều kinh nghiệm về xây dựng và đánh giá Chỉ số đo lường mức độ hài lòng của công dân về thủ tục hành chính công -- SIPAS, Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh - PCI) và chuyên gia quốc tế về lĩnh vực này cùng tham gia.

Bộ Giáo dục và Đào tạo đã phê duyệt cho nhóm công tác về kỹ thuật triển khai thực hiện một nhiệm vụ nghiên cứu cấp Bộ "Xây dựng tiêu chí đo lường sự hài lòng của người dân đối với dịch vụ giáo dục công" với các nội dung: (1) Làm rõ cơ sở lý luận và khái niệm về dịch vụ giáo dục công, sự hài lòng, các phương pháp đo lường, lý thuyết tiếp cận; (2) Nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế (Hoa Kỳ, Canada, Nga, Trung Quốc, Úc…) về đo lường mức độ hài lòng của người dân về dịch vụ giáo dục; (3) Xác định các chỉ số và phương pháp đo lường; (4) Xây dựng các mẫu phiếu điều tra (dành cho cha mẹ học sinh, học sinh, sinh viên các cấp học và trình độ đào tạo); (5) Xây dựng tài liệu hướng dẫn thực hiện việc đo lường; (6) Triển khai tổ chức, đo lường thử nghiệm tại 03 tỉnh, thành phố (Điện Biên, Hà Nội, Ninh Thuận); (7) Phân tích thử nghiệm; (8) Hoàn thiện công cụ, quy trình khảo sát; (9) Hoàn thiện báo cáo tổng kết nhiệm vụ.

Nhiệm vụ nghiên cứu đã được Hội đồng khoa học cấp Bộ nghiệm thu (Hội đồng gồm các chuyên gia có uy tín và kinh nghiệm trong lĩnh vực đánh giá, đo lường được Bộ Giáo dục và Đào tạo mời từ các tổ chức, cơ sở đào tạo có uy tín: Bộ Nội vụ, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hội đồng Quốc gia Giáo dục và Phát triển nhân lực; Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, các chuyên gia về chính sách công…). Sau ý kiến của Hội đồng khoa học, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã sử dụng kết quả nghiên cứu (bộ công cụ, phương pháp, quy trình, tài liệu hướng dẫn…) vào đo lường chính thức, cụ thể:

Năm 2014, Bộ Giáo dục và Đào tạo tạo đã thực hiện đo lường tại 03 tỉnh, thành phố: Hà Nội, Kon Tum và Tiền Giang (12/2014). Năm 2015, Bộ Giáo dục và Đào tạo tiếp tục thực hiện điều tra tại 03 tỉnh Phú Thọ, Nghệ An và Tây Ninh (tháng 10/2015). Việc lựa chọn địa bàn và đối tượng khảo sát theo đúng quy trình đặt ra cũng như nằm trong danh sách các tỉnh/thành phố đã được chọn trong kế hoạch, đảm bảo tính đại diện của địa phương. Tổng số tỉnh/thành phố đã thực hiện khảo sát là 06/20 tỉnh/thành phố dự kiến được khảo sát ở quy mô toàn quốc.

Năm 2016, Bộ Giáo dục và Đào tạo giao Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam rà soát Bộ công cụ khảo sát và tổ chức tập huấn phương pháp đo lường sự hài lòng của người dân đối với dịch vụ giáo dục công cho 63 tỉnh, thành phố và các cơ sở giáo dục đại học.

Năm 2017, trên cơ sở tiếp thu ý kiến của các địa phương và các cơ sở giáo dục đại học, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam đã hoàn thiện và trình Bộ Giáo dục và Đào tạo tạo ban hành Quyết định số 2329/QĐ-BGDĐT ngày 11/7/2017 về việc ban hành Bộ công cụ khảo sát và tài liệu Hướng dẫn triển khai đo lường sự hài lòng của người dân đối với dịch vụ giáo dục công để các địa phương và các cơ sở giáo dục triển khai thực hiện. Đồng thời, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã giao Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam cử đoàn hỗ trợ kỹ thuật, kiểm tra, giám sát việc thực hiện Đề án tại 12 tỉnh/thành phố trên cả nước.

Ngày 10/5/2017, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quyết định số 1603/QĐ-BGDĐT ban hành Kế hoạch thực hiện Đề án “Đo lường sự hài lòng của người dân đối với dịch vụ giáo dục công giai đoạn 2016 - 2020” năm 2017;  Bộ Giáo dục và Đào tạo đã triển khai đo lường sự hài lòng của người dân đối với dịch vụ giáo dục công năm 2017 theo quy mô mẫu điều tra xã hội học.

Về thực hiện đo lường sự hài lòng của người dân đối với dịch vụ giáo dục công năm 2019

Ngày 15/7/2019 Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quyết định số 2007/QĐ-BGDĐT ban hành Kế hoạch thực hiện Đề án “Đo lường sự hài lòng của người dân đối với dịch vụ giáo dục công giai đoạn 2016 - 2020” năm 2019 và Kế hoạch số 931/KH-BGDĐT ngày 09/9/2019 về kế hoạch chi tiết thực hiện đo lường sự hài lòng của người dân đối với dịch vụ giáo dục công năm 2019. Trong đó, giao cho Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam chủ trì, phối hợp với Vụ Tổ chức cán bộ xây dựng Kế hoạch triển khai Đề án “Đo lường sự hài lòng của người dân đối với dịch vụ giáo dục công” năm 2019 và đã được lãnh đạo Bộ Giáo dục và Đào tạo phê duyệt.

Theo đó, đã rà soát, chỉnh sửa bộ công cụ đo lường và tài liệu hướng dẫn; tổ chức tập huấn trong toàn quốc cho 63 Sở Giáo dục và Đào tạo và các cơ sở giáo dục đại học công lập; tổ chức đo lường, phân tích xử lý và công bố kết quả đo lường sự hài lòng của người dân đối với dịch vụ giáo dục công năm 2019. Theo kế hoạch 931/KH-BGDĐT ngày 9/9/2019, Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức khảo sát đánh giá sự hài lòng của người dân về dịch vụ giáo dục công trên phạm vi toàn quốc.

Tổng cộng, có 61 tỉnh, thành phố (ngoại trừ Hòa Bình và TP. Hải Phòng gửi công văn xin phép chưa tham gia) và 12 trường cao đẳng, trường đại học đã gửi báo cáo “Kết quả đánh giá sự hài lòng đối với dịch vụ giáo dục công” về Vụ Tổ chức cán bộ, Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Với những tỉnh, thành phố và các trường đại học có đầy đủ dữ liệu hợp lệ này sẽ được phân tích sâu kết quả ở phần sau.

Bảng thống kê cụ thể tổng số 168.039 đối tượng tham gia khảo sát của các tỉnh, thành phố đã gửi dữ liệu về Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Tỉnh,

thành phố

Phiếu

Tổng

Mầm non

Tiểu học

Trung học cơ sở

Giáo dục thường xuyên

Đại học

Cha mẹ học sinh Trung học phổ thông

Học sinh

Trung học phổ thông

Hà Nội

2.941

2.864

2.854

1.431

13.059

2.840

2.829

28.818

Hà Giang

645

789

721

 

 

905

904

3.964

Tuyên Quang

699

823

660

249

 

887

886

4.204

Lào Cai

566

776

591

209

 

699

455

3.296

Sơn La

204

232

492

50

 

327

966

2.271

Thái Nguên

1.190

1.439

1.158

870

713

1.705

909

7.984

Quảng Ninh

 

 

 

 

649

 

 

649

Bắc Giang

745

835

781

669

 

977

978

4.985

Phú Thọ

 

 

 

 

1339

 

 

1339

Bắc Ninh

664

880

657

256

 

979

978

4.414

Hà Tĩnh

1.122

1.421

1.324

819

 

1.787

1.789

8.262

Thái Bình

741

804

762

778

 

906

906

4.897

Hà Nam

622

735

714

535

 

846

846

4.298

Nam Định

601

601

734

300

978

945

945

5.104

Thanh Hóa

573

640

602

232

 

825

820

3.692

Nghệ An

559

627

588

596

1.100

1.000

1.002

5.472

Khánh Hòa

576

730

821

498

 

812

814

4.251

Lâm Đồng

383

636

577

528

 

770

774

3.668

Đà Nẵng

644

915

934

215

4250

964

964

8.886

Quảng Nam

552

782

784

327

 

854

856

4.155

Quảng Ngãi

553

896

726

233

493

932

932

4.765

Bình Định

567

477

769

158

 

829

829

3.629

Phú Yên

410

757

837

 

 

935

935

3.874

Bình Thuận

584

804

764

57

 

941

941

4.091

Đắk Nông

559

792

665

176

 

834

834

3.860

Bình Phước

701

879

851

302

 

868

868

4.469

Tây Ninh

621

837

782

179

 

940

939

4.298

Bà Rịa - Vũng Tàu

900

1.705

1.200

750

 

1.050

1.050

6.655

TP. Hồ Chí Minh

 

 

 

 

1.447

 

 

1.447

Tiền Giang

 

 

 

 

518

 

 

518

Trà Vinh

577

847

795

373

 

794

847

4.233

Vĩnh Long

504

684

601

487

1.085

867

638

4.866

Đồng Tháp

475

627

657

232

 

837

837

3.665

Hậu Giang

397

464

525

214

 

730

730

3.060

Tổng

20.875

26.298

24.926

11.723

25.631

29.585

29.001

168.039

Bảng Thống kê số lượng trả lời phiếu Điều tra tại 34 tỉnh, thành phố gửi dữ liệu về Bộ

 

1. Kết quả đo lường sự hài lòng của người dân đối với dịch vụ giáo dục công năm 2019

Theo thiết kế điều tra, khảo sát đánh giá sự hài lòng của người dân về dịch vụ giáo dục công được triển khai trên 63 tỉnh/thành phố trên toàn quốc. Hiện, 61 tỉnh/thành phố đều có báo cáo triển khai đánh giá cấp tỉnh về sự hài lòng. Tuy nhiên, khi gửi dữ liệu khảo sát về Bộ Bảng Thống kê số lượng trả lời phiếu Điều tra tại 34 tỉnh, thành phố gửi dữ liệu về Bộ chỉ nhận được 34/61 tỉnh thành có đầy đủ và chính xác cơ sở dữ liệu Đánh giá hài lòng năm 2019.

Về đặc điểm của các nhóm tham gia khảo sát cụ thể như sau:

Cấp Mầm non: Cha mẹ học sinh bậc Mầm non tham gia khảo sát là 20.875 người trong đó có 34,56% Nam và 65,44% Nữ. Trình độ học vấn của cha mẹ học sinh bậc Mầm non khá đa dạng trong đó nhiều nhất là cha mẹ có trình độ Trung học phổ thông (chiếm 29,24%) và trình độ đại học (chiếm 24,41%). Độ tuổi cha mẹ học sinh bậc Mầm non phần lớn ở độ tuôi từ 30 đến 39 tuổi (chiếm 56,95%) và Dưới 30 tuổi (chiếm 28,27%).

Cấp Tiểu học: Cha mẹ học sinh bậc Tiểu học tham gia khảo sát là 26.298 người trong đó có 36,21% Nam và 63,08% Nữ trong đó có 0,70% cha mẹ học sinh không ghi rõ về giới tính. Trình độ học vấn của cha mẹ học sinh bậc Tiểu học khá đa dạng trong đó nhiều nhất là cha mẹ có trình độ Trung học phổ thông (chiếm 26,30%) và trình độ đại học (chiếm 22,94%). Độ tuổi cha mẹ học sinh bậc Tiểu học phần lớn ở độ tuôi từ 30 đến 39 tuổi (chiếm 61,07%) và Từ 40 đến 49 tuổi (chiếm 23,44%).

Cấp Trung học cơ sở: Cha mẹ học sinh bậc Trung học cơ sở tham gia khảo sát là 24.926 người trong đó có 40,17% Nam và 59,18% Nữ trong đó có 0,65% cha mẹ học sinh không ghi rõ về giới tính. Trình độ học vấn của cha mẹ học sinh bậc Trung học cơ sở khá đa dạng trong đó nhiều nhất là cha mẹ có trình độ Trung học cơ sở (chiếm 26,71%) và trình độ Trung học phổ thông (chiếm 24,17%). Độ tuổi cha mẹ học sinh bậc Tiểu học phần lớn ở độ tuổi từ 30 đến 39 tuổi (chiếm 61,07%) và từ 40 đến 49 tuổi (chiếm 23,44%).

Cấp Trung học phổ thông: Bậc Trung học phổ thông đối tượng tham gia khảo sát gồm các học sinh được chọn mẫu đang học tại trường và cha mẹ của học sinh được chọn mẫu đó. Cha mẹ học sinh bậc Trung học phổ thông tham gia khảo sát 29.585 người trong đó có 42,90% nam và 56,10% nữ trong đó có 0,99% cha mẹ học sinh không ghi rõ về giới tính. Trình độ học vấn của cha mẹ học sinh bậc Trung học phổ thông khá đa dạng trong đó nhiều nhất là cha mẹ có trình độ Trung học phổ thông (chiếm 29,41%) và trình độ Trung học cơ sở (chiếm 26,01%).

Học ính ở trường các trường Trung học phổ thông tham gia khảo sát gồm 29.001 học sinh trong đó có 44,53% học sinh Nam và 55,06% học sinh có giới tính Nữ và có 0,41% học sinh không trả lời trong mục giới tính trong phiếu khảo sát. Các học sinh Trung học phổ thông tham gia khảo sát có năm sinh từ năm 1981 đến năm 2005 trong đó chủ yếu là những học sinh có năm sinh 2002 (chiếm 29,33%), năm 2003 (chiếm 35,03%) và sinh năm 2004 (chiếm 34,47%) các học sinh được chọn được ở các lớp 10, 11 và 12 với tỷ lệ đồng đều nhau.

Giáo dục thường xuyên: có 11.723 học sinh, học viên được chọn tham gia khảo sát trong đó có 62,16% học sinh Nam và 35,75% học sinh Nữ tham gia khảo sát. Các học sinh được chọn chủ yếu ở nhóm lớp 9 đến lớp 12.

Giáo dục cao đẳng, đại học: trong số 25.631 sinh viên tham gia khảo sát thì có 42,7% là nam và nhiều nhất là sinh viên năm thứ nhất, chiếm 33,5%.

Về mức độ hài lòng, trong các cấp học được khảo sát thì cấp Mầm non được cha mẹ học sinh đánh giá ở mức hải lòng cao nhất, tiếp đến là cấp Tiểu học, Trung học cơ sở, Trung học phổ thông, Giáo dục thường xuyên và Cao đẳng, Đại học. Đặc biệt với cấp Trung học phổ thông, Giáo dục thường xuyên và Giáo dục đại học là ý kiến đánh giá của HS, sinh viên là đối tượng trực tiếp được thụ hưởng chất lượng dịch vụ giáo dục công, cho thấy điểm đánh giá phần lớn là ở mức Hài lòng và Rất hài lòng.

Trong 5 lĩnh vực đánh giá thì lĩnh vực về Môi trường Đào tạo và Tiếp cận Giáo dục được cha mẹ học sinh và học sinh đánh giá hài lòng ở mức cao, lĩnh vực được đánh giá ở mức Hài lòng thấp nhất trong 5 lĩnh vực là Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học. Điều này cho thấy ở các cơ sở giáo dục về cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học còn một số vấn đề cần quan tâm và điều chỉnh nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và sự hài lòng của người dân với dịch vụ công.

Điểm hài lòng chung toàn quốc ở các cấp học dao động từ 3,92 đến 4,53/5 điểm, trong đó người dân hài lòng nhất đối với chất lượng dịch vụ giáo dục mầm non và ít hài lòng nhất là ở chất lượng dịch vụ giáo dục đại học. Điểm hài lòng cả 5 lĩnh vực cũng theo chiều hướng giảm dần từ chất lượng dịch vụ giáo dục mầm non đến đại học. Trong đó, người dân hài lòng hơn cả là về chất lượng môi trường giáo dục, ít hài lòng nhất là về chất lượng cơ sở vật chất, thiết bị dạy học.

Những chỉ số được đánh giá cao ở dịch vụ giáo dục mầm non (từ 4,70 điểm trở lên) tập trung vào các lĩnh vực: Tiếp cận giáo dục và Môi trường giáo dục. Còn những chỉ số được đánh giá thấp nhất ở dịch vụ giáo dục đại học (dưới 4) tập trung vào các lĩnh vực: Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học; Hoạt động giáo dục; Kết quả giáo dục.

Tỷ lệ đáp ứng kỳ vọng trung bình của người dân đối với chất lượng dịch vụ giáo dục các cấp học (gồm mầm non, tiểu học, Trung học cơ sở, Trung học phổ thông và Giáo dục thường xuyên) của các tỉnh, thành phố khá cao, từ 83,3% đến 95%.

Về tỷ lệ hài lòng, dịch vụ giáo dục công ở cấp Mầm non, Tiểu học và Trung học cơ sở có tỷ lệ hài lòng cao hơn cấp Trung học phổ thông, giáo dục thường xuyên và giáo dục đại học; trong 5 lĩnh vực dịch vụ giáo dục công thì lĩnh vực Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học được các đối tượng khảo sát ít hài lòng hơn cả; chất lượng dịch vụ giáo dục công đáp ứng khá tốt sự mong đợi/ kỳ vọng của cha mẹ học sinh cũng như học sinh.

2. Đánh giá chung

2.1. Về kết quả hài lòng của người dân đối với dịch vụ giáo dục công

Kết quả đo lường sự hài lòng của người dân đối với dịch vụ giáo dục công năm 2019 đã khẳng định tính khoa học và khả thi của mô hình giả thuyết: Sự hài lòng của người dân phụ thuộc vào việc các cơ sở giáo dục công đáp ứng mong muốn của họ về năm lĩnh vực (i) tiếp cận dịch vụ giáo dục, (ii) điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị, (iii) môi trường giáo dục, (iv) hoạt động giáo dục, và (v) sự phát triển và tiến bộ của người học. Trong đó, xác định được vai trò quan trọng của ba lĩnh vực “Cơ sở vật chất, trang thiết bị”, “Môi trường giáo dục” và “Kết quả giáo dục” đến sự hài lòng của người dân.

Có sự khác biệt hài lòng của người dân về chất lượng dịch vụ giáo dục công giữa các cấp học, người dân hài lòng nhất ở giáo dục mầm non và giảm dần đến giáo dục đại học. Điều này chứng tỏ yêu cầu của người dân càng cao ở các cấp học cao.

Kết quả khảo sát đã đáp ứng cơ bản mục tiêu đặt ra: đánh giá được một cách khoa học và khách quan chất lượng cung ứng dịch vụ của các cơ sở giáo dục công thông qua cảm nhận của những đối tượng trực tiếp thụ hưởng. Từ đó, ghi nhận tinh thần trách nhiệm của đội ngũ giáo viên và ban giám hiệu nhà trường, góp phần phát huy tinh thần dân chủ, quyền kiểm tra, giám sát của người dân đối với sự phục vụ của cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục.

2.2. Những ưu điểm và hạn chế

Thứ nhất, về ưu điểm: Việc đo lường đánh giá sự hài lòng của người dân đối với dịch vụ giáo dục công ở hầu hết các địa phương đã đảm bảo tuân thủ quy trình hướng dẫn ban hành theo Quyết định số 3476/QĐ-BGD ĐT ngày 04/9/2019 của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Bộ công cụ bám sát 5 thành phần và 22 tiêu chí cơ bản, đáp ứng nhu cầu của người dân.

Việc xác định địa bàn khảo sát đảm bảo yêu cầu vùng miền (có địa bàn miền núi, đồng bằng và đô thị). Mẫu điều tra được xác định ngẫu nhiên, đảm bảo sự đa dạng mô hình nghiên cứu, dữ liệu nghiên cứu định lượng và định tính.

Việc điều tra, khảo sát được tiến hành độc lập, khách quan, trực tiếp đến những người đang hưởng thụ các dịch vụ giáo dục. Thông tin, dữ liệu thu thập bảo đảm độ tin cậy, độ giá trị cần thiết. Kết quả khảo sát phản ánh đúng tâm tư, nguyện vọng của người dân đối với việc cung cấp dịch vụ giáo dục công của ngành giáo dục.

Hình thức xin ý kiến trực tiếp từ đối tượng thụ hưởng giáo dục nhận được sự đồng tình, hợp tác tích cực của nhân dân. Hội đồng khảo sát địa phương làm việc nghiêm túc, hiệu quả, đảm bảo chất lượng.

Thứ hai, một số tồn tại, hạn chế: Công tác tuyên truyền còn hạn chế, nên một bộ phận nhỏ đối tượng liên quan chưa hiểu rõ mục đích, ý nghĩa của việc đánh giá sự hài lòng của người dân đối với chất lượng dịch vụ giáo dục công. Người dân ít có thói quen phản hồi thông tin nên hầu hết các phiếu đều không đề xuất ý kiến, nguyện vọng gì về việc nâng cao chất lượng dịch vụ giáo dục công. Cá biệt một số người còn nể nang, e ngại ảnh hưởng đến việc học của con em, nên không dám đánh giá đúng thực chất.

 Cán bộ Hội đồng khảo sát làm kiêm nhiệm, nên khá lúng túng khi tổ chức trả lời phiếu, nhập phiếu, phân tích, xử lý dữ liệu và viết báo cáo; kinh phí không được cấp riêng, chỉ sử dụng kinh phí thường xuyên; kế hoạch đo lường phải điều chỉnh nhiều lần do ảnh hưởng của đại dịch COVID-19.

Điểm hài lòng và tỉ lệ hài lòng của lĩnh vực Cơ sở vật chất và thiết bị dạy học là thấp nhất, đây là rào cản, thách thức lớn nhất mà ngành giáo dục vẫn luôn phải đối mặt. Vẫn còn một số nơi và ở một số giáo viên chưa thực sự chú trọng nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ. Điều này dẫn đến các hoạt động giáo dục được tổ chức kém hiệu quả, môi trường giáo dục kém sự tương tác, và kết quả giáo dục chưa cao…

3. Một số đề xuất, kiến nghị nâng cao sự hài lòng của người dân

Thứ nhất, tạo thuận tiện để người dân tiếp cận dịch vụ giáo dục hiệu quả, chỉ đạo và giám sát đội ngũ công chức, viên chức quản lý, viên chức hành chính, viên chức giảng dạy thực hiện các quy trình, quy định về thủ tục hành chính, về tiến độ tiếp nhận hồ sơ, giải quyết và thời gian trả kết quả ngắn nhất có thể, đảm bảo chữ tín với người dân. Xây dựng các thủ tục đơn giản, dễ hiểu và dễ thực hiện.

Đa dạng hóa nguồn cung cấp thông tin tuyển sinh, thủ tục nhập học/chuyển trường (qua Website, tin nhắn điện thoại, thư ngỏ, cuộc họp hội cha mẹ học sinh, họp với cộng đồng, loa đài truyền thanh xã/ phường,…) và bảo đảm cung cấp đầy đủ cho người dân

Đội ngũ công chức, viên chức quản lý, viên chức hành chính, viên chức giảng dạy phải nắm vững và thực hành tốt các kỹ năng giao tiếp, ứng xử văn minh với người dân; đảm bảo điều kiện tiếp đón và thái độ giao dịch với người dân ở mức tốt nhất;

Thực hiện nghiêm túc các chính sách nhà nước hỗ trợ học sinh dân tộc thiểu số, học sinh có hoàn cảnh khó khăn, các đối tượng đặc biệt,… Thực hiện chế độ học phí và khoản đóng góp thêm một cách hợp lý, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của người dân địa phương.

Đối với các cơ sở giáo dục mầm non cần chú trọng việc tạo thuận tiện để người dân tiếp cận giáo dục hơn.

Thứ hai, nâng cao Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học, đây là thành tố có tác động quan trọng nhất đến sự hài lòng của người dân đối với dịch vụ giáo dục mầm non, Trung học phổ thông và Trung học cơ sở, có tác động quan trọng thứ hai ở các cấp học cao.

Thực hiện nghiêm túc việc chuẩn hóa các điều kiện bảo đảm chất lượng về: phòng học, phòng học bộ môn, phòng đa năng và các phòng chức năng; trang thiết bị dùng chung, thiết bị và đồ dùng dạy học, đồ chơi trẻ em; điều kiện sân chơi bãi tập, nhà xưởng, nhà bếp; điện, nước và khu vệ sinh an toàn, sạch sẽ;… Đồng thời, chú ý đến bày trí cảnh quan, cây xanh bóng mát, tạo cảm giác thư thái, yên lành khi đưa con em đến trường.

Xây dựng kế hoạch triển khai công tác thẩm định và xác nhận các điều kiện đảm bảo chất lượng giáo dục theo tiêu chuẩn kiểm định cơ sở giáo dục và dần áp dụng các tiêu chuẩn kiểm định quốc tế (đối với khối đại học);

Đầu tư xây dựng thư viện trường, lớp đáp ứng các yêu cầu tối thiểu: đủ sách giáo khoa, giáo trình và tài liệu tham khảo; thuận tiện cho người sử dụng; tra cứu tìm kiếm dễ dàng;… Ở các nơi có điều kiện chuyển đổi sang thư viện số/ thư viện điện tử;

Xây dựng nền tảng công nghệ thông tin (máy vi tính, mạng Internet, máy chiếu Projetor, bảng điện tử,…) để hỗ trợ tốt công tác giáo dục, đào tạo.

Thứ ba, cải thiện môi trường giáo dục, môi trường giáo dục là một thành tố tác động đến sự hài lòng của người dân ở mức độ quan trọng nhất với giáo dục Trung học phổ thông, quan trọng thứ hai với giáo dục Mầm non và Giáo dục Trung học cơ sở và giáo dục Đại học và quan trọng thứ ba với giáo dục Trung học và giáo dục Thường xuyên. Vì vậy, cần phải:

Củng cố, duy trì phong trào“xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”. Trong đó các mối quan hệ của giáo viên với học sinh và học sinh với học sinh dựa trên nền tảng tin tưởng, cởi mở, tôn trọng, chia sẻ, không bạo lực, không kỳ thị…

Đẩy mạnh việc thực hiện các phương châm giáo dục cho trẻ mầm non và tiểu học như “Mỗi ngày đến trường là một ngày vui”, “Học mà chơi, chơi bằng học”, “Giáo dục phải chính là cuộc sống của trẻ”…

Tạo môi trường phát triển thể chất, tâm sinh lý an toàn, lành mạnh; chú trọng uốn nắn hành vi ứng xử phù hợp với những quy định, quy tắc chuẩn mực sống (an toàn giao thông, vệ sinh thân thể, an toàn thực phẩm, kính trên nhường dưới…).

Coi việc xây dựng môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, thân thiện là một vấn đề trọng tâm. Một môi trường sạch sẽ, an toàn, có sự bố trí phù hợp khu vực chơi và học trong lớp và ngoài trời; một môi trường giao tiếp cởi mở, thân thiện giữa giáo viên với học sinh, giữa học sinh với nhau và giữa học sinh với mọi người xung quanh.

Tăng cường sử dụng các phương pháp dạy học tích cực (như: dạy học giải quyết vấn đề, hoạt động nhóm, đóng vai, trò chơi học tập), tổ chức các hoạt động lấy học sinh làm trung tâm trong quá trình dạy học để phát huy tiềm năng, phát triển năng lực cho học sinh.

Thứ tư, nâng cao chất lượng Hoạt động giáo dục, hoạt động giáo dục tác động đến sự hài lòng của người dân ở mức quan trọng nhất với giáo dục Đại học, quan trọng thứ tư với giáo dục Phổ thông, quan trọng thứ 5 với giáo dục Mầm non và giáo dục Thường xuyên. Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động giáo dục (học tập, giảng dạy và đánh giá) là:  

Tạo cơ hội để người học được tham gia nhiều loại hình hoạt động như: Phát triển nhận thức; hình thành và rèn luyện các thói quen tốt, các hành vi ứng xử đúng đắn khi giao tiếp trong hoạt động, hình thành và phát triển các kỹ năng học tập suốt đời, các kỹ năng sống;… Tạo cơ hội phát triển tiềm năng của học sinh thông việc kích hoạt kinh nghiệm sống, tổ chức hoạt động theo cách riêng, tốc độ riêng;

Khuyến khích học sinh tích cực, chủ động tham gia hoạt động trải nghiệm, khám phá cuộc sống, giao lưu, sinh hoạt câu lạc bộ… Từ đó, hình thành ý thức kỷ luật, tinh thần trách nhiệm với bản thân, với bạn và với môi trường xung quanh.

Đổi mới nội dung giáo dục, phương pháp và hình thức giáo dục, tăng cường sử dụng phương tiện dạy học và ứng dụng công nghệ thông tin nhằm phát triển phẩm chất, năng lực người học ở các cấp học

Thực hiện phương thức đánh giá kết quả giáo dục theo hướng: xem trọng tiến bộ trong quá trình học tập; đo lường sự phát triển năng lực của trẻ thông qua các hoạt động giáo dục;…

Tăng cường công tác hướng nghiệp từ Trung học cơ sở thông qua việc: cung cấp thông tin về thế giới ngành nghề, nhu cầu của thị trường lao động, những yêu cầu tố chất của người lao động trong từng ngành nghề, ý thức về nhu cầu, xu hướng hoạt động tương lai của bản thân;…

Thứ năm, cải thiện cách thức đánh giá năng lực người học, nghiên cứu và thực hiện nghiêm túc việc đánh giá người học theo các Thông tư hướng dẫn đánh giá phẩm chất, năng lực học sinh của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Tăng cường thu thập minh chứng về sự phát triển phẩm chất, năng lực của người học. Từ đó điều chỉnh, cải thiện kế hoạch giáo dục cho phù hợp.

Thực hiện nghiêm túc việc đo lường, đánh giá kết quả giáo dục của người học, tránh hành vi gian lận, bao che, dung túng và thiên vị trong quá trình giáo dục và đào tạo.

Tăng cường phân cấp quản lý quá trình dạy học và đánh giá theo hướng gắn tự chủ với tự chịu trách nhiệm của trường, của giáo viên.

Nâng cao phẩm chất đạo đức, năng lực quản lý và tổ chức kiểm tra, đánh giá, thi của đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục, cán bộ chuyên trách và giáo viên.

Thứ sáu, triển khai đo lường sự hài lòng của người dân đối với dịch vụ giáo dục công hằng năm, Ban Chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ nghiên cứu, tiếp tục đưa công tác đánh giá đo lường sự hài lòng của người dân đối với dịch vụ giáo dục công vào Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2021 - 2030 để cải thiện chất lượng dịch vụ công trên lĩnh vực giáo dục đào tạo.

Bộ Giáo dục và Đào tạo tiếp tục bố trí nguồn kinh phí đầy đủ, thường xuyên theo Kế hoạch của Chính phủ đã phê duyệt để có thể tiến hành đo lường trên quy mô mẫu lớn, đảm bảo tính đại diện và độ tin cậy của kết quả đo lường; Tổ chức nghiên cứu, thiết kế xây dựng phần mềm đánh giá trực tuyến sự hài lòng của người dân đối với dịch vụ giáo dục công, thông qua nhiều loại công cụ khác nhau (như mạng internet, điện thoại thông minh, máy tính,…). Điều này sẽ tạo thuận lợi cho việc thu thập dữ liệu, phân tích, xử lý dữ liệu và viết báo cáo ở cấp cơ sở giáo dục, cấp địa phương và cấp trung ương; 

Các địa phương tổng kết, rút kinh nghiệm và vận dụng phương pháp đo lường này trong xây dựng phương pháp đo lường sự hài lòng của người dân đối với dịch vụ giáo dục công tại địa phương mình và tổ chức đo lường theo định kỳ để kịp thời điều chỉnh hoạt động quản lý nhằm ngày càng đáp ứng sự hài lòng của người dân đối với dịch vụ giáo dục công; Xây dựng chương trình, kế hoạch triển khai cụ thể hàng năm của mỗi cơ sở giáo dục, mỗi địa phương, coi chỉ số hài lòng của người dân đối với chất lượng dịch vụ giáo dục công là một chỉ số đầu vào quan trọng. Việc đo lường sự hài lòng cần thực hiện đầy đủ, đúng qui trình ở tất cả các khâu từ việc lập kế hoạch, chọn mẫu, tập huấn cho các đơn vị, cá nhân, phân tích xử lý dữ liệu và viết báo cáo, nhằm đảm bảo thu được kết quả nghiêm túc, khách quan và khoa học. Mặt khác, chú trọng việc lập kế hoạch sử dụng hiệu quả kết quả đo lường sự hài lòng của người dân để nâng cao chất lượng dịch vụ giáo dục công của cơ sở giáo dục cũng như chất lượng giáo dục cấp tỉnh.


Nguồn: Báo cáo chuyên đề của Bộ Giáo dục và Đào tạo tổng kết Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 - 2020 của Ban Chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ