Tin Video

Phóng sự: Đô thị thông minh

Thống kê truy cập

Lượt truy cập : 34.857.831

Khách Online : 240

CCHC Bộ, ngành

ĐỔI MỚI CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH, XÃ HỘI HÓA TRONG CÁC HOẠT ĐỘNG VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH, NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH GIAI ĐOẠN 2011 - 2020

14:58 31/05/2021 | Lượt xem : 1541

  • Xem với cỡ chữ T T
  • Inverts
  • Lượt xem : 1541
Công tác xã hội hóa đã và đang từng bước mang lại một luồng sinh khí mới trong toàn bộ các lĩnh vực hoạt động của ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch, phù hợp với xu thế phát triển, hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, bước đầu đã làm thay đổi nhận thức của các cấp lãnh đạo từ Trung ương đến địa phương, từng bước tạo ra sự cân bằng giữa các đơn vị công lập và ngoài công lập để đẩy mạnh phát triển sự nghiệp văn hóa.
 Việc triển khai chính sách xã hội hóa trong lĩnh vực văn hóa, thể thao và du lịch đã từng bước khai thác, phát huy có hiệu quả, nguồn lực xã hội hoá đã đóng góp tích cực vào sự nghiệp phát triển Ngành, từng bước nâng cao chất lượng hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch đáp ứng nhu cầu hưởng thụ đời sống văn hóa, tinh thần của Nhân dân.
Trong lĩnh vực du lịch, xã hội hoá là chủ trương lớn của Nhà nước ta. “Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030” nêu rõ: Đẩy mạnh xã hội hoá, huy động mọi nguồn lực cả trong và ngoài nước cho đầu tư phát triển du lịch; phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế quốc gia về yếu tố tự nhiên và văn hoá dân tộc, thế mạnh đặc trưng, các vùng, miền trong cả nước; tăng cường liên kết phát triển du lịch, tạo công ăn việc làm ổn định cho nhiều lao động góp phần đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội.
1. Kết quả thực hiện đổi mới cơ chế, chính sách, xã hội hóa trong các hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch, nâng cao chất lượng dịch vụ văn hóa, thể thao và du lịch
Những năm qua, việc đẩy mạnh chủ trương xã hội hóa dịch vụ công ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã đạt được những kết quả quan trọng. Các loại hình, dịch vụ trong lĩnh vực văn hóa, thể thao và du lịch ngày càng phát triển đa dạng, đáp ứng tốt nhu cầu hưởng thụ, giải trí, làm phong phú thêm đời sống văn hóa tinh thần của Nhân dân, góp phần ổn định chính trị - xã hội, cụ thể:
1.1. Lĩnh vực văn hóa
a) Công tác bảo tồn di tích
Công tác xã hội hóa hoạt động bảo tồn di tích đã huy động được nhiều nguồn lực xã hội cho công tác bảo vệ và tu bổ di tích, tương đương với nguồn đầu tư của nhà nước. Các di tích được xếp hạng đã được phát huy giá trị một cách tích cực dưới nhiều mức độ khác nhau. Nhiều di tích đã trở thành những sản phẩm du lịch văn hóa đặc thù gắn kết với những tuyến du lịch hấp dẫn thu hút khách du lịch trong nước và quốc tế đóng góp hiệu quả cho phát triển du lịch. Nhiều di tích danh thắng đem lại nguồn thu lớn cho hoạt động du lịch như: Vịnh Hạ Long (Quảng Ninh), Quần thể danh thắng Tràng An (Ninh Bình), Quần thể di tích cố đô Huế; Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng (Quảng Bình), Khu phố cổ Hội An (Quảng Nam)...
Công tác bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể: Các cộng đồng, địa phương có di sản được tôn vinh đã và đang chủ động, tích cực tổ chức các hoạt động nhằm bảo vệ và phát huy giá trị di sản của địa phương mình. Nhiều trung tâm và câu lạc bộ Cồng chiêng, Ca trù, Quan họ, Hát xoan, Đờn ca tài tử.v.v... khôi phục và duy trì hoạt động bằng nguồn kinh phí huy động xã hội hóa, không sử dụng nguồn hỗ trợ từ ngân sách nhà nước. 
Hiện nay, các cơ sở thực hiện xã hội hóa hoạt động trong lĩnh vực di sản văn hóa phi vật thể gồm: Cơ sở nghiên cứu, bảo tồn và phát huy di sản văn hóa hoạt động dưới dạng các trung tâm nghiên cứu và cơ sở diễn xướng dân gian được tổ chức hoạt động dưới dạng các câu lạc bộ, đội, nhóm hoặc gia đình đã đáp ứng đủ các yêu cầu, tiêu chí quy mô, tiêu chuẩn theo quy định tại Quyết định số 1466/QĐ-TTg ngày 10/10/2008 của Thủ tướng Chính phủ ban hành danh mục chi tiết các loại hình, tiêu chí, quy mô, tiêu chuẩn của các cơ sở thực hiện xã hội hóa trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường. 
Công tác bảo tồn, bảo tàng: Các bảo tàng đã chủ động đổi mới nội dung và hình thức hoạt động nhằm nâng cao hiệu quả và phát huy tốt vai trò và chức năng trong đời sống xã hội. Trên cả nước hiện nay (tính đến hết tháng 12/2018) đã có 38 bảo tàng ngoài công lập được Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cấp giấy phép hoạt động. Việc thực hiện triển khai Đề án “Đẩy mạnh các hoạt động học tập suốt đời trong các thư viện, bảo tàng, nhà văn hóa, câu lạc bộ” đã thu hút được đông đảo đối tượng học sinh, sinh viên tới thăm bảo tàng, thực sự gắn hoạt động của bảo tàng với giáo dục học đường.
b) Lĩnh vực thư viện
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch kiểm tra giám sát việc triển khai các dự án xã hội hóa: Dự án “Nâng cao khả năng sử dụng máy tính và truy cập internet công cộng tại Việt Nam” do Quỹ Bill và Melinda Gates tài trợ không hoàn lại cho hệ thống thư viện công cộng Việt Nam với tổng kinh phí: 50,6 triệu USD. Quy mô: tại 40 tỉnh với 1.900 điểm tiếp nhận với tổng số 11.870 máy tính; 1.900 máy in, tổ chức đào tạo cho tổng cộng 1.887 cán bộ. Dự án tài trợ sách tiếng Anh (Quỹ Châu Á, Hoa Kỳ). Tổng kinh phí: 20 triệu USD. Dự án tài trợ hơn 500.000 cuốn sách tiếng Anh cho các thư viện Việt Nam. Dự án được tiếp tục trong 5 năm tiếp theo (2017 - 2022).
Dự án Quỹ Force của Hà Lan với mục đích hỗ trợ những người khuyết tật, người mù, người khiếm thị ở các nước đang phát triển. Tại Việt Nam, Quỹ đã có trên 10 năm xây dựng, hình thành và phát triển bằng nhiều hoạt động viện trợ nhân đạo, trong đó có lĩnh vực thư viện. Dự án Biên mục trên xuất bản phẩm trị giá 80.000USD: TVQGVN phối hợp với Đại học quốc tế RMIT triển khai với sự tham gia của 59/60 NXB ở Việt Nam.
Dự án dịch và xuất bản Khung phân loại thập phân Dewey (ĐC22) từ tiếng Anh sang tiếng Việt trị giá 40.000USD do quỹ Atlantic Philanthropies và Đại học quốc tế RMIT tài trợ (2010 - 2012) do Thư viện Quốc gia thực hiện. Dự án dịch các tài liệu về bảo quản và tổ chức đào tạo kỹ năng bảo quản tài liệu cho các thư viện của Việt Nam: Do Quỹ Ford tài trợ trị giá hơn 40.000USD. Bên cạnh đó, Quỹ cũng đã tài trợ 07 học bổng toàn phần đào tạo tiếng anh cho cán bộ Thư viện Quốc gia tại TP. Hồ Chí Minh.
Dự án xây dựng “Thư viện văn hóa thiếu nhi” tại Thư viện Quốc gia Việt Nam (2017 - 2018) do Quỹ hỗ trợ Hợp tác Văn hóa quốc tế Hàn quốc tài trợ năm 2017. Dự án “Xe thư viện đa phương tiện lưu động” được Vụ Thư viện bắt đầu triển khai từ cuối năm 2015 - đầu năm 2016. Tổng kinh phí 7.5 tỷ đồng. Năm 2017, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (Vụ Thư viện) phối hợp với Quỹ Force tiếp nhận, trang thiết bị chuyên dụng cho thư viện phục vụ người khiếm thị. Với tổng trị giá 5.500USD.
c) Lĩnh vực văn hóa cơ sở
Về thiết chế văn hóa cơ sở: Thực hiện Quyết định số 2164/QĐ-TTg ngày 11/11/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống thiết chế văn hóa; quy định về tổ chức, tiêu chí hoạt động của các thiết chế văn hóa, thể thao cơ sở đã được các địa phương trong cả nước vận dụng linh hoạt vào điều kiện thực tế, phát huy tốt chức năng, nhiệm vụ được giao cho các thiết chế văn hóa, thể thao cơ sở, góp phần đẩy mạnh phong trào văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao cơ sở. 
Những năm trước, các Trung tâm Văn hóa cấp tỉnh hoạt động theo cơ chế tài chính như cơ quan hành chính, sau đó chuyển sang cơ chế tài chính của đơn vị sự nghiệp có thu. Hiện nay, về cơ bản các trung tâm đã hoạt động theo cơ chế tài chính của đơn vị sự nghiệp, được Nhà nước cấp ngân sách theo kế hoạch hoạt động và đảm bảo lương cho viên chức, chỉ tiêu thu, nộp ngân sách chỉ còn áp dụng ở một số nơi thật sự có điều kiện, chủ yếu nhằm bù đắp, đầu tư lại cho phát triển nghiệp vụ. Nguồn kinh phí đầu tư xây dựng cơ vật chất kỹ thuật và kinh phí duy trì hoạt động thường xuyên của Nhà Văn hóa - Khu Thể thao thôn chủ yếu do nhân dân đóng góp, một phần nguồn vốn từ các nguồn xã hội hóa.
Về hoạt động nghệ thuật quần chúng: Hiện nay, xu thế xã hội hóa về văn nghệ quần chúng đang được mở rộng ở nhiều địa phương và cụm dân cư. Xã hội hóa ở đây không chỉ là huy động nguồn lực vật chất mà còn thể hiện ở yếu tố con người với sự tham gia đông đảo của các tầng lớp nhân dân. Ở một số doanh nghiệp có phong trào VNQC phát triển như Tập đoàn Than và Khoảng sản Việt Nam, Ngân hàng Ngoại thương (Vietcombank), Ngân hàng Đầu tư và Phát triển (BIDV)… đều là kết quả của việc mạnh dạn đầu tư, tuyển dụng cán bộ được đào tạo về âm nhạc.
Trong các chương trình Văn nghệ quần chúng mà đặc biệt là tại các hội thi, hội diễn đã thể hiện rõ sự tham gia nhiệt tình của cả cộng đồng dân cư và sự đầu tư của lãnh đạo chính quyền địa phương cũng như các cơ quan, đơn vị đã góp phần rút ngắn khoảng cách về chất lượng giữa các chương trình biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp và quần chúng. Hiện nay, cả nước có: 55 đội tuyên truyền lưu động cấp tỉnh (mỗi năm biểu diễn trung bình 183 cuộc liên hoan, 9.939 buổi hoạt động tuyên truyền lưu động, 568 lớp tập huấn cán bộ tuyên truyền lưu động); 498 đội tuyên truyền lưu động cấp huyện (mỗi năm biểu diễn trung bình 945 cuộc liên hoan, 17.937 buổi tuyên truyền lưu động, 279 lớp tập huấn cán bộ tuyên truyền lưu động); 28.266 đội văn nghệ quần chúng (số buổi hoạt động trung bình mỗi năm là 1.570.739 buổi; số cuộc liên hoan, hội thi, hội diễn cấp huyện trở lên là 5.073; 546 lớp tập huấn nghiệp vụ cấp huyện trở lên).
Về hoạt động lễ hội: Trong những năm qua, các tỉnh/thành phố đều đẩy mạnh công tác xã hội hóa trong các hoạt động lễ hội, đặc biệt là các lễ hội gắn liền với văn hóa tâm linh; lễ hội Văn hóa, Thể thao và Du lịch, nhiều lễ hội đã huy động 100% nguồn vốn xã hội hóa, điển hình như: Lễ hội Đền Quả Sơn, Lễ hội Đền Hoàng Mười, Lễ hội Đền Cờn (Nghệ An), Lễ hội Côn Sơn - Kiếp Bạc (Hải Dương), Lễ hội Dạ cổ Hoài lang (Bạc Liêu), Lễ hội Yên Tử (Quảng Ninh), Lễ hội Hoa Ban (Điện Biên), Lễ hội Hoa tam giác mạch (Hà Giang), Lễ hội Hoa Đà Lạt, Lễ hội festival (Quảng Nam), Lễ hội Festival Huế, Lễ hội Cà Phê Buôn Ma Thuột (Đắk Lắk), Lễ hội Đua ghe ngo của đồng bào ven biển... Thông qua công tác xã hội hóa đã thu hút được các nguồn lực xã hội tham gia vào công tác bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của lễ hội. Nhiều hoạt động lễ hội truyền thống cùng các hoạt động văn hóa, văn nghệ, trò chơi, trò diễn trong lễ hội được phục dựng và phát triển; các hoạt động sinh hoạt văn hóa, văn nghệ, trò chơi dân gian trong lễ hội ngày càng đa dạng, đã đáp cơ bản được nhu cầu của nhân dân và du khách. Đảm bảo các lễ hội diễn ra trang trọng, hiệu quả, an toàn và tiết kiệm.
Bên cạnh các lễ hội dân gian, lễ hội văn hóa du lịch, một số lễ hội du nhập từ nước ngoài gần đây cũng chuyển dần sang hướng xã hội hóa, như: Lễ hội Dừa (Bến Tre), ngày hội trái cây ngon an toàn (Bến Tre). Hiện nay, cả nước có 7.670 lễ hội (trong đó lễ hội dân gian có 6.812 lễ hội; lễ hội tôn giáo có 616 lễ hội; lễ hội lịch sử, cách mạng có 425 lễ hội; lễ hội văn hóa du lịch có 45 lễ hội; lễ hội du nhập từ nước ngoài có 41 lễ hội). 
Về hoạt động tuyên truyền cổ động: Trong những năm qua, công tác xã hội hóa hoạt động tuyên truyền cổ động, kết hợp với quảng cáo thương mại tại các tỉnh, thành phố đã mang lại hiệu quả tích cực, giúp cho công tác tuyên truyền cổ động hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao và mang lại nguồn thu cho hoạt động sự nghiệp, giảm dần sự lệ thuộc vào ngân sách nhà nước. Các đơn vị quảng cáo đóng trên địa bàn các tỉnh, thành phố đã phối hợp với ngành văn hóa, thể thao và du lịch thực hiện việc in, phóng pa nô tranh cổ động, khẩu hiệu, phướn tuyên truyền các ngày lễ, ngày kỷ niệm như: Mừng Đảng, mừng xuân, chào mừng thành công Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng và kỷ niệm 86 năm Ngày thành lập Đảng cộng sản Việt Nam (03/02/1930 - 03/02/2016), tuyên truyền bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016 - 2021, kỷ niệm 130 năm Ngày Quốc tế lao động (01/5/1886 - 01/5/2016)... và các nhiệm vụ phát triển kinh tế của địa phương. Các hoạt động tuyên truyền với nhiều hình thức tiêu biểu như: Thành phố Cần Thơ in 274.152, tranh, áp phích, 35.261 băng zôn khẩu hiệu, 1.000 cờ trang trí, phướn; Thành phố Hồ Chí Minh in 2.37 tài liệu, 7.000 tranh cổ động, áp phích, 2.660 cờ phướn, cờ trang, 1.900m2 tranh cổ động; tỉnh Bắc Giang in 7.294 băng zôn khẩu hiệu, 111.553 cờ phướn, cờ trang trí, 2.050 tranh cổ động, áp phích, 9.642 tài liệu tuyên truyền, 3.314m2 tranh cổ động. 
d) Lĩnh vực mỹ thuật, nhiếp ảnh và triển lãm
Hiện nay, trong cả nước, hoạt động mỹ thuật, nhiếp ảnh và triển lãm được xã hội hóa trong nhiều hoạt động, nhiều tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp tổ chức nhiều sự kiện mỹ thuật, nhiếp ảnh, triển lãm lớn, có quy mô toàn quốc và quốc tế. Nâng cao chất lượng đời sống tinh thần của Nhân dân
Tính trung bình hàng năm trên cả nước có khoảng 300 cuộc triển lãm mỹ thuật, nhiếp ảnh và triển lãm ở các quy mô từ triển lãm toàn quốc, tỉnh, thành phố triển lãm khu vực, triển lãm của các cá nhân tổ chức, nhiều sự kiện mỹ thuật, sự kiện nhiếp ảnh được tổ chức trên cả nước. Các hoạt động này đã thực hiện tốt, có tầm ảnh hưởng lớn tăng cường vai trò xã hội hóa trong lĩnh vực mỹ thuật, nhiếp ảnh và triển lãm.
Các công ty mỹ thuật, nhiếp ảnh công lập hiện nay hầu hết đã được xã hội hóa, đây là một bước tiến quan trọng trong công tác xã hội hóa lĩnh vực mỹ thuật, nhiếp ảnh và triển lãm. Tạo sự cân bằng giữa doanh nghiệp tư nhân với doanh nghiệp nước ngoài, tạo động lực phát triển cho ngành mỹ thuật. 
Trên cả nước các trường đào tạo mỹ thuật, nhiếp ảnh còn là các cơ sở hoạt động công lập, cần khuyến khích, tạo điều kiện, có cơ chế chính sách để xây dựng các trường đào tạo ngành mỹ thuật, nhiếp ảnh ngoài công lập có tính chuyên môn cao. Công tác đào tạo trong thời gian qua đã có những chuyển biến về chất lượng, giáo trình, quy mô về ngành học, gắn với thực tế xã hội, phù hợp với sự phát triển chung của thế giới. 
đ) Lĩnh vực bản quyền tác giả
Xã hội hóa dịch vụ công trong lĩnh vực giám định quyền tác giả, quyền liên quan được quy định tại Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 được sửa đổi, bổ sung tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2009; Nghị định số 105/2006/NĐ-CP ngày 22/09/2006 của Chính phủ được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 119/2010/NĐ-CP ngày 30/12/2010 của Chính phủ; Thông tư số 15/2012/TT-BVHTTDL ngày 13/12/2012 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch hướng dẫn hoạt động giám định quyền tác giả, quyền liên quan. 
Đến nay, có 4 cá nhân được cấp thẻ Giám định viên quyền tác giả, quyền liên quan theo quy định.
Ngày 03/6/2016, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành Quyết định số 1981/QĐ-BVHTTDL về việc thành lập Trung tâm giám định quyền tác giả, quyền liên quan. Đây là tổ chức sự nghiệp, có chức năng giúp Cục trưởng Cục Bản quyền tác giả thực hiện giám định quyền tác giả, quyền liên quan.
e) Lĩnh vực Nghệ thuật biểu diễn
Về chuyển đổi mô hình quản lý, các đơn vị nghệ thuật công lập về cơ bản vẫn duy trì cơ chế nhà nước bao cấp. Đối với 12 Nhà hát thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, hiện nay có 02 nhà hát đã chuyển sang hình thức tự chủ hoàn toàn, 10 nhà hát tự chủ một phần. Các đơn vị nghệ thuật công lập cấp tỉnh, thành vẫn theo cơ chế bao cấp. 
Đối với các đơn vị ngoài công lập: Việc thực hiện các chính sách xã hội hóa các đơn vị nghệ thuật theo quy định tại Nghị định số 59/2014/NĐ-CP ngày 16/6/2014 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung Nghị định số 69/2008/NĐ-CP ngày 30/5/2008 của Chính phủ hiện tại cũng gặp nhiều khó khăn và hầu như chưa được thực hiện được do những vướng mắc về chế độ chính sách khi thực hiện. Hiện nay, chỉ có một số đơn vị nghệ thuật hoạt động theo mô hình xã hội hóa tại thành phố Hồ Chí Minh, có khả năng cân đối tài chính song cũng gặp nhiều khó khăn về nơi biểu diễn, các khoản đóng góp thuế. 
Các đơn vị này được tự chủ về tài chính, hoạt động gần với mô hình doanh nghiệp vì vậy khá năng động, nhạy bén trong quá trình tổ chức, thực hiện hoạt động tổ chức biểu diễn, tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân chủ động lập kế hoạch, sáng tạo, dàn dựng biểu diễn và phổ biến đến công chúng, qua đó tạo nguồn thu để tái đầu tư sản xuất các chương trình nghệ thuật có chất lượng ngày một cao hơn; tạo công ăn việc làm cho người lao động, tiếp thu, áp dụng công nghệ, khoa học kỹ thuật tiên tiến của thế giới vào sản xuất, dàn dựng, biểu diễn các chương trình nghệ thuật. Tuy nhiên, do yếu tố là hoạt động kinh doanh nên thường lựa chọn đầu tư vào những loại hình nghệ thuật thị trường (được thị trường quan tâm, đón nhận) để tổ chức, thực hiện nhằm thu được lợi nhuận qua bán vé giá cao, kêu gọi được tài trợ, mua được kênh của truyền thống… Và hầu hết các đơn vị này không lựa chọn đầu tư vào các loại hình nghệ thuật truyền thống, do không thu hút được khán giả, giá vé bán rất thấp, khó thu hồi vốn đầu tư.
Nguồn thu ngoài ngân sách cho đơn vị sự nghiệp công lập: Chủ yếu là doanh thu từ vé bán trong các chương trình biểu diễn nghệ thuật, một số đơn vị nghệ thuật thông qua hoạt động tổ chức biểu diễn có huy động được nguồn tài trợ nhưng chủ yếu tập trung ở các loại hình nghệ thuật ca múa nhạc hiện đại hoặc các chương trình có yếu tố nước ngoài; đối với các chương trình nghệ thuật truyền thống thì việc huy động tài trợ rất khó khăn. Ngoài ra còn một số nguồn thu khác như cho thuê địa điểm, mặt bằng, thiết bị kỹ thuật để tổ chức biểu diễn nghệ thuật hoặc mặt bằng kinh doanh dịch vụ…
Hiện nay, theo lộ trình hội nhập quốc tế, nhà nước có chính sách cho phép các tổ chức, cá nhân liên doanh, liên kết với đối tác nước ngoài để thành lập cơ sở hoạt động trong các lĩnh vực như nhạc sống, xiếc và xây dựng Nhà hát, nhưng cho đến nay hầu như chưa thực hiện được. 
g) Lĩnh vực điện ảnh
Việc Nhà nước có chính sách xã hội hóa đối với lĩnh vực điện ảnh thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với sự nghiệp phát triển điện ảnh dân tộc. Hoạt động điện ảnh đã thực hiện theo đúng định hướng sáng tác của Đảng và Nhà nước, góp phần củng cố và phát triển điện ảnh dân tộc. Nhiều tác phẩm điện ảnh có nội dung và hình thức thể hiện nghệ thuật mang hơi thở của cuộc sống, thấm đượm tính nhân văn phản ánh sâu sắc sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và phát triển đất nước, giành được những giải thưởng xứng đáng trong các kỳ Liên hoan Phim Việt Nam và ở một số Liên hoan Phim quốc tế uy tín, thu hút được sự quan tâm của khán giả trong nước và được bè bạn quốc tế đánh giá cao. Một số cơ sở điện ảnh đã phát huy tính năng động, tiếp cận được với thị trường thông qua các hình thức hợp tác, liên doanh sản xuất, phát hành và phổ biến phim, có định hướng và chiến lược quảng bá phim trong nước và ra nước ngoài.
Tổ chức, tham gia liên hoan phim quốc gia, liên hoan phim quốc tế (Khoản 5 Điều 5 Luật Điện ảnh) đã góp phần đáp ứng nhu cầu hưởng thụ tác phẩm điện ảnh của công chúng không chỉ đối với tác phẩm điện ảnh trong nước mà cả tác phẩm điện ảnh quốc tế: Tổ chức thành công Liên hoan Phim quốc tế tại Hà Nội (2010, 2012, 2014, 2016); tham gia 148 Liên hoan Phim quốc tế với 330 lượt đầu phim; tổ chức 48 chương trình giới thiệu phim Việt Nam ra nước ngoài, với 186 lượt đầu phim.
Việc thành lập các cơ sở sản xuất phim: Quy định tại Điều 13, Điều 14 Luật Điện ảnh (2006) và Khoản 1, Khoản 2, Khoản 3 Điều 1 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Điện ảnh (2009) đã tạo hành lang pháp lý cho thành phần kinh tế tư nhân thành lập doanh nghiệp sản xuất phim và đóng góp tích cực vào việc nâng cao sản lượng phim Việt Nam. Hiện nay, 50 - 60% tổng sản lượng phim điện ảnh trong nước là do doanh nghiệp tư nhân sản xuất, số phòng chiếu thuộc thành phần kinh tế nhà nước chiếm 20%, thành phần tư nhân chiếm 80%. Việc đầu tư máy chiếu phim công nghệ kỹ thuật số hiện đại của các phòng chiếu thuộc thành phần kinh tế nhà nước chiếm khoảng 38%, các phòng chiếu thuộc thành phần kinh tế tư nhân là 100%. 
1.2. Lĩnh vực thể dục và thể thao
Xã hội hoá lĩnh vực thể dục thể thao sẽ tạo điều kiện cho sự nghiệp thể dục thể thao phát triển mạnh mẽ hơn, đa dạng hơn và một số hoạt động sẽ phát triển theo hướng kinh doanh dịch vụ. Xây dựng và phát triển các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp về thể dục thể thao sẽ thu hút được đông đảo quần chúng tham gia hoạt động thể dục thể thao, phát huy được các nguồn lực và khả năng sáng tạo của nhân dân trong phát triển sự nghiệp thể dục thể thao đất nước. Hệ thống các tổ chức xã hội hóa về thể dục, thể thao được tăng cường, bước đầu phát huy tác dụng trong tổ chức, điều hành các hoạt động thể dục, thể thao. Ở trung ương có Ủy ban Olympic Quốc gia, Hiệp hội thể thao người khuyết tật và 26 Liên đoàn, Hiệp hội thể thao. Các liên đoàn, hiệp hội thể thao quốc gia đều là thành viên của liên đoàn, hiệp hội thể thao ở Đông Nam Á, Châu Á và Thế giới. Số lượng các cơ sở thể dục, thể thao ngoài công lập tăng nhanh, với nhiều loại hình mới phong phú, đa dạng ở cấp ngành các tổ chức xã hội về thể dục thể thao là các liên đoàn, hiệp hội thể thao nhưng cùng một đối tượng và có tính quốc gia. Các địa phương có từ 5 - 10 liên đoàn, hiệp hội thể thao cấp tỉnh hoạt động tương đối hiệu quả; các thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng… có từ 10 đến trên 20 liên đoàn, hiệp hội thể thao. 
Nhiều địa phương đã bước đầu thực hiện có kết quả việc chuyển giao các cơ sở thể dục, thể thao công lập sang loại hình bán công, đơn vị cổ phần hoặc giao khoán cho tư nhân quản lý, khai thác. Các câu lạc bộ thể dục thể thao ngoài công lập đã đóng vai trò rất tích cực trong việc duy trì, tổ chức các hoạt động thể dục, thể thao phục vụ quần chúng Nhân dân, phát hiện và đào tạo năng khiếu thể thao ban đầu, chủ yếu trong các môn như võ thuật, điền kinh, bơi lội, bóng bàn, cờ tướng, cờ vua... Các cơ quan quản lý nhà nước về thể dục thể thao và chính quyền các cấp đã biết dựa vào dân, khai thác tiềm năng trong dân để phát triển đa dạng các loại hình hoạt động thể dục thể thao quần chúng; kinh phí huy động trong dân cho các hoạt động thể dục thể thao có tính phong trào tăng nhanh hàng năm và chiếm tỷ trọng lớn hơn nhiều lần so với kinh phí nhà nước; việc chuyển giao các câu lạc bộ thể thao, các đội thể thao thành tích cao từ  các cơ quan nhà nước quản lý sang hoạt động theo mô hình doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp tự chủ, tự hạch toán, câu lạc bộ thể thao do doanh nghiệp tài trợ, đỡ đầu hoạt động hoặc chuyển đổi toàn bộ sang cho doanh nghiệp quản lý tiếp tục chuyển biến mạnh mẽ; việc đào tạo vận động viên thể thao thành tích cao cũng thể hiện khá rõ nét chủ trương xã hội hoá.  
Những thành tựu đạt được trong quá trình xã hội hóa thể dục, thể thao những năm qua đã khẳng định quan điểm, đường lối đổi mới đúng đắn của Đảng nhằm phát triển sự nghiệp thể dục, thể thao nước ta, đáp ứng nhu cầu và nguyện vọng của nhân dân và phù hợp với yêu cầu và nhiệm vụ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
1.3. Lĩnh vực du lịch 
Thực hiện mục tiêu đến năm 2020, ngành Du lịch cơ bản trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội; có tính chuyên nghiệp, có hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật tương đối đồng bộ, hiện đại; sản phẩm du lịch có chất lượng cao, đa dạng, có thương hiệu, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, cạnh tranh được với các nước trong khu vực.
Mười năm qua, ngành Du lịch đã có bước phát triển rõ rệt và đạt được những kết quả quan trọng, đáng khích lệ. Tốc độ tăng trưởng khách du lịch quốc tế đạt 10,2%/năm, khách du lịch nội địa đạt 11,8%/năm. Năm 2019, du lịch Việt Nam tiếp tục đạt được những thành tựu có ý nghĩa đột phá, đạt 30%/năm. Việt Nam được đánh giá là 1 trong 10 nước tăng trưởng du lịch nhanh nhất thế giới. Trong khu vực ASEAN, Việt Nam đã vượt Indonesia vươn lên vị trí thứ 4 về lượng khách quốc tế đến. Khách quốc tế đến Việt Nam năm 2019 đạt 18.008.591 lượt, tăng 16,2% so với cùng kỳ năm 2018, phục vụ 85 triệu lượt khách nội địa; tổng thu từ khách du lịch ước đạt khoảng 726.000 tỷ đồng, tăng 17,1% so với năm 2018. 
Thông qua triển khai hiệu quả các chính sách thu hút đầu tư phát triển du lịch, hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật ngành Du lịch ngày càng phát triển. Loại hình sản phẩm, dịch vụ du lịch ngày càng phong phú và đa dạng. Chất lượng và tính chuyên nghiệp từng bước được nâng cao. Lực lượng doanh nghiệp du lịch lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng, tạo được một số thương hiệu có uy tín ở trong nước và quốc tế. Bước đầu hình thành một số địa bàn và khu du lịch trọng điểm thu hút khách du lịch trong nước và quốc tế. Việt Nam được bình chọn là Điểm đến du lịch hàng đầu châu Á hai năm liên tiếp; Điểm đến văn hóa hàng đầu Châu Á; Điểm đến ẩm thực hàng đầu Châu Á; thành phố Hội An được bình chọn là Điểm đến thành phố văn hóa hàng đầu Châu Á và nhiều giải thưởng danh giá khác tại Lễ trao giải thưởng Du lịch thế giới năm 2019. Năng lực cạnh tranh du lịch Việt Nam liên tục được cải thiện trên bảng xếp hạng của Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF), từ hạng 75/141 năm 2015 lên hạng 67/136 năm 2017 và năm 2019 xếp hạng 63/140 nền kinh tế. 
1.4. Tình hình thực hiện xã hội hóa của các đơn vị thuộc Bộ
a) Phân loại đơn vị
Tổng số đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Bộ gồm: 78 đơn vị thuộc loại hình đơn vị sự nghiệp sau: Giáo dục - Đào tạo (27 đơn vị); Khoa học công nghệ (04 đơn vị); Văn hóa (33 đơn vị); Thể thao (10 đơn vị); Y tế (01 đơn vị); Kinh tế (03 đơn vị). Trong đó:
Đơn vị tự chủ theo cơ chế Nghị định số 16/2015/NĐ-CP: 72 đơn vị: Đơn vị tự đảm bảo kinh phí hoạt động: 06 đơn vị; Đơn vị tự đảm bảo một phần kinh phí hoạt động: 57 đơn vị; Đơn vị do nhà nước đảm bảo toàn bộ kinh phí hoạt động: 09 đơn vị.
Đơn vị tự chủ theo cơ chế Nghị định số 54/2016/NĐ-CP: 04 đơn vị.
Đơn vị sự nghiệp không hoạt động theo cơ chế tự chủ: 02 đơn vị (Trung tâm Văn hóa Việt Nam tại Lào, Trung tâm Văn hóa Việt Nam tại Pháp).
b) Các hoạt động chính tại đơn vị sự nghiệp thuộc bộ
Các hoạt động thực hiện chức năng, nhiệm vụ chính của đơn vị theo quy định về chức năng, nhiệm vụ của đơn vị được cơ quan, người có thẩm quyền phê duyệt. 
Đơn vị sự nghiệp trực tiếp thực hiện và có nguồn thu từ vé xem biểu diễn nghệ thuật, xem phim, tham quan bảo tàng, tham quan sân vận động, vé bơi... Ngoài ra, trong thời gian không trực tiếp sử dụng, đơn vị cho thuê cơ sở vật chất để biểu diễn nghệ thuật và tập luyện thể thao. Tuy nhiên, các hoạt động này có nguồn thu thấp, không ổn định nên chỉ đủ bù đắp một phần kinh phí hoạt động thường xuyên, kinh phí hoạt động chủ yếu vẫn từ nguồn ngân sách nhà nước. Việc thực hiện xã hội hóa để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ chính của đơn vị sự nghiệp thuộc Bộ hiện nay về cơ bản khó khả thi do yêu cầu nhiệm vụ định hướng chính trị và có tính chất phục vụ.
Các hoạt động phụ trợ, hỗ trợ trực tiếp cho việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo chức năng, nhiệm vụ chính của đơn vị được cơ quan, người có thẩm quyền phê duyệt. 
Căn cứ quy định của Nhà nước và hướng dẫn của các cơ quan có thẩm quyền, trong các năm qua một số đơn vị sự nghiệp thuộc Bộ đã sử dụng tài sản đang quản lý sử dụng để hợp tác, liên kết với các tổ chức theo hình thức xã hội hóa. Đơn vị hợp tác liên kết có năng lực, kinh nghiệm về đầu tư, kinh doanh và khả năng tài chính liên kết đầu tư với đơn vị sự nghiệp để bổ sung các hạng mục để đáp ứng công năng còn thiếu hoặc dịch vụ phục vụ cho hoạt động chính. Qua đó, góp phần phát huy công suất và hiệu quả sử dụng tài sản công được giao quản lý, huy động các nguồn lực xã hội phát triển văn hóa, thể thao, du lịch, giúp tăng cường nguồn thu của đơn vị, tăng phần tự chủ tài chính trong điều kiện ngân sách nhà nước còn khó khăn. 
2. Tồn tại, hạn chế
Lĩnh vực văn hóa: Ngân sách nhà nước đầu tư cho văn hoá còn thấp, đặc biệt đầu tư bảo tồn và phát triển văn hoá vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Việc huy động các nguồn vốn đầu tư khác cho văn hoá còn rất hạn chế do chính sách khuyến khích chưa cụ thể và thiết thực. Phương thức phân bổ, bố trí kinh phí từ ngân sách Nhà nước cho các đơn vị sự nghiệp công lập còn mang tính bình quân, chưa gắn với chất lượng dịch vụ, chưa có sự bình đẳng giữa các đơn vị trong và ngoài công lập trong việc tiếp cận nguồn kinh phí ngân sách Nhà nước. 
Công tác xã hội hóa các hoạt động văn hóa, nghệ thuật còn hạn chế, việc huy động các nguồn lực phục vụ cho hoạt động văn hóa, nghệ thuật của nhiều địa phương, đặc biệt là các tỉnh miền núi, hải đảo, biên giới, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số. Sự chênh lệch về mức hưởng thụ văn hóa giữa các vùng, miền còn nhiều cách biệt. 
Các tổ chức, cá nhân (doanh nghiệp tư nhân, hộ kinh doanh cá thể...) thường chú trọng, tập trung cho mục đích thu lợi về kinh tế, ít quan tâm đầu tư cho văn hóa, vì là lĩnh vực không mang lại hiệu quả kinh tế cao. Nhiều thiết chế văn hóa có cơ sở vật chất, trang thiết bị hoạt động còn thiếu thốn, chất lượng yếu tố con nguời không đồng đều và còn hạn chế. 
Các cơ sở ngoài công lập có thái độ phục vụ tốt, tuy nhiên quy mô các cơ sở ngoài công lập hầu hết còn nhỏ bé, số lượng dịch vụ còn hạn chế, chất lượng chuyên môn sâu chưa đạt được như khối công lập, phát triển không đồng đều giữa các vùng và các lĩnh vực, mới chủ yếu tập trung ở nội thành, nội thị, nơi đông dân; nhiều đơn vị chạy theo số lượng, lạm dụng kỹ thuật đã phần nào làm giảm chất lượng dịch vụ cung cấp cho người dân.
Các đơn vị nghệ thuật truyền thống công lập hiện nay hoạt động cũng gặp nhiều khó khăn, thách thức, mặc dù đã được nhà nước quan tâm, chú trọng bảo tồn, phát huy nhưng hầu như không tạo được sức hút, sự quan tâm từ các nguồn lực xã hội do nghệ thuật truyền thống ngày một mất đi chỗ đứng trong thị trường nghệ thuật biểu diễn và bị các loại hình nghệ thuật thị trường lấn át và sự cạnh tranh gay gắt từ các phương tiện truyền hình số, internet và các loại hình nghệ thuật từ nước ngoài, nghệ thuật hiện đại.
Việc xã hội hoá một số hoạt động lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn cho từng loại hình ở từng vùng, miền chưa có bước đi thích hợp. Các chính sách, phương hướng và cách thức xã hội hóa từng loại hình nghệ thuật chưa được khái quát, cụ thể để áp dụng đặc thù, việc triển khai được áp dụng ở quy mô rộng lớn, không đáp ứng các điều kiện, yêu cầu ở từng địa phương. Doanh nghiệp sản xuất phim tư nhân phát triển tự phát, nhiều doanh nghiệp sản xuất phim thành lập ra nhưng chưa thực sự tham gia vào thị trường điện ảnh.
Lĩnh vực thể thao: Quan niệm về xã hội hoá của các cấp, các ngành và xã hội còn chưa đầy đủ và toàn diện, chưa thực sự quyết tâm đẩy mạnh xã hội hoá các hoạt động dịch vụ công, nhận thức về xã hội hóa thể dục thể thao còn thiếu nhất quán, nhiều nơi còn có tư tưởng coi xã hội hóa thể dục thể thao đơn thuần là các biện pháp nhằm huy động kinh phí ngoài ngân sách, coi xã hội hoá chỉ là biện pháp huy động sự đóng góp của nhân dân trong điều kiện Nhà nước khó khăn về tài chính, ngân sách. Tư tưởng bao cấp, trông chờ, ỷ lại vào Nhà nước của một bộ phận cán bộ, công chức và người dân còn khá nặng nề. Có nơi coi xã hội hóa là phương thức duy nhất để phát triển thể dục, thể thao, dẫn tới buông lỏng quản lý và thiếu quan tâm chỉ đạo, đầu tư cho sự nghiệp thể dục, thể thao. Trong khi đó, công tác quán triệt, tuyên truyền về mục tiêu, sự cần thiết của xã hội hóa chưa được chú ý đúng mức.
Chưa hoàn thiện hệ thống định mức kinh tế - kỹ thuật, tiêu chí, tiêu chuẩn chất lượng dịch vụ sự nghiệp công; mức độ phát triển xã hội hoá không đồng đều giữa các vùng, miền và cả giữa các địa phương có điều kiện kinh tế - xã hội như nhau. Cơ chế, chính sách đầu tư, thu hút các nguồn lực của xã hội để phát triển các cơ sở dịch vụ công ngoài công lập chưa đủ mạnh. Hệ thống các cơ sở thể thao ngoài công lập ít về số lượng, nhỏ về quy mô và còn có những khó khăn, bất cập trong triển khai hoạt động. Phần lớn các liên đoàn, hiệp hội thể thao ở cả cấp quốc gia và cấp tỉnh, thành phố còn yếu, chưa phát huy hết vai trò trong quá trình xã hội hoá. 
Lĩnh vực du lịch: Hệ thống văn bản pháp luật, chế độ, chính sách về xã hội hoá còn chưa đồng bộ, thống nhất. Các chính sách khuyến khích xã hội hóa chưa tách biệt vùng thuận lợi với vùng khó khăn một cách rõ ràng và đủ mạnh để thu hút các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân đầu tư vào những vùng khó khăn…
 
3. Đề xuất các mục tiêu, nhiệm vụ giải pháp giai đoạn 2021 - 2030 
3.1. Mục tiêu
Mục tiêu chung: Đưa ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch phát triển một cách bền vững, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao trong đời sống tinh thần của người dân. Hướng tới việc thúc đẩy bình đẳng xã hội về hưởng thụ văn hóa cho người dân thuộc tất cả các nhóm xã hội và địa bàn cư trú.  
Mục tiêu cụ thể: Phát huy tiềm năng và sử dụng hiệu quả các nguồn lực của nhân dân, đảm bảo sự tham gia rộng rãi của các tầng lớp nhân dân vào quá trình tổ chức sản xuất, phân phối và hưởng thụ các dịch vụ, sản phẩm văn hóa, thể thao và du lịch.
Nâng cấp, đồng bộ hệ thống cơ sở vật chất các thiết chế văn hóa, thể thao, đặc biệt là cấp cơ sở. Thực hiện liên kết đào tạo, cử học sinh, sinh viên, giảng viên đi đào tạo, bồi dưỡng trong nước và nước ngoài; mời chuyên gia nước ngoài vào giảng dạy. Nâng cao chất lượng các hoạt động vực văn hóa, thể thao và du lịch, đáp ứng tốt nhu cầu ngày càng đa dạng của người dân, phù hợp với các xu hướng phát triển kinh tế - xã hội chung của cả nước và cộng đồng quốc tế.
3.2. Nhiệm vụ, giải pháp  
Lĩnh vực văn hóa: Hoàn thiện thể chế đẩy mạnh xã hội hóa trong lĩnh vực văn hóa, thể thao và du lịch, tạo môi trường pháp luật lành mạnh, công bằng cho mọi người tham gia đầu tư phát triển lĩnh vực văn hóa, thể thao và du lịch. 
Xây dựng các quy định nhằm tạo cơ chế ưu đãi, miễn, giảm các loại thuế, phí phù hợp với thực tiễn, có tính khả thi nhằm thu hút đầu tư vào lĩnh vực văn hóa, thể thao và du lịch. Khuyến khích các đoàn làm phim nước ngoài vào làm phim tại Việt Nam. 
Phát triển hệ thống các tổ chức, đơn vị cung ứng dịch vụ công trong lĩnh vực văn hóa, thể thao và du lịch: Các cơ sở ngoài công lập tham gia cung ứng dịch vụ công theo nhu cầu của xã hội, Nhà nước chỉ thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với các cơ sở này theo qui định của pháp luật; Đảm bảo sự bình đẳng giữa các cơ sở văn hóa, thể thao và du lịch công lập và các cơ sở ngoài công lập: Thực hiện chính sách đấu thầu cung ứng dịch vụ văn hóa do Nhà nước đặt hàng với sự tham gia bình đẳng của các cơ sở thuộc mọi thành phần kinh tế. Đảm bảo bình đẳng trong hoạt động quản lý nhà nước, về thi đua khen thưởng, công nhận danh hiệu nghệ sĩ...
Bố trí ngân sách nhà nước và huy động các nguồn lực ngoài ngân sách để đẩy mạnh xã hội hóa dịch vụ công trong lĩnh vực văn hóa, thể thao và du lịch: Tiếp tục đổi mới cơ chế và tăng cường quản lý văn hóa bằng cách hoàn thiện cơ chế chính sách tăng nguồn lực đầu tư cho các mục tiêu ưu tiên, chương trình mục tiêu phát triển văn hóa ưu tiên vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa vùng đồng bào các dân tộc thiểu số có nhiều khó khăn.
Xem xét mối quan hệ giữa ý nghĩa xã hội và ý nghĩa kinh tế trong việc đầu tư cho lĩnh vực văn hóa, thể thao và du lịch hóa. Lựa chọn đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, kết hợp hài hòa giữa nguồn lực đầu tư từ nhà nước với nguồn xã hội hóa để phát triển sự nghiệp văn hóa, thể thao và du lịch.
Tăng cường phân cấp, giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy và số người làm việc cho các đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của Chính phủ. Quy định rõ thẩm quyền và trách nhiệm của người đứng đầu trong quản lý và điều hành đơn vị sự nghiệp; quy định và thực hiện cơ chế giám sát, kiểm tra trách nhiệm của người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập trong việc thực hiện thẩm quyền...
Tổ chức thực hiện tốt các chính sách ưu đãi về cấp đất, cho thuê đất, thực hiện tốt công tác giải phóng mặt bằng; ưu đãi chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp cho các cơ sở thực hiện xã hội hóa để khuyến khích đầu tư tăng cường cơ sở vật chất, nâng cao chất lượng dịch vụ; khuyến khích các đơn vị sự nghiệp huy động vốn dưới dạng góp cổ phần, vốn góp từ người lao động trong đơn vị, huy động các nguồn vốn hợp pháp khác thông qua hợp tác, liên kết với doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, cá nhân để đầu tư xây dựng cơ sở vật chất...; cho phép các tổ chức, cá nhân trong nước đã được cấp quyền sử dụng đất lâu dài được cho nhà đầu tư nước ngoài thuê lại đất trong thời hạn cấp quyền sử dụng đất và các ưu đãi khác.
Lĩnh vực thể thao: Tăng cường công tác tuyên truyền, quảng bá hình ảnh của các tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế về thể dục thể thao, thu hút mạnh mẽ sự tham gia, ủng hộ của các tầng lớp nhân dân trong xã hội cho phát triển sự nghiệp thể dục thể thao. Xây dựng, củng cố các tổ chức Đảng, đoàn thể trong các tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế về thể dục thể thao. Chuyển giao việc điều hành các hoạt động chuyên môn cho các tổ chức xã hội về thể dục, thể thao. Cải tiến và hoàn thiện hệ thống thi đấu thể thao; phương pháp chỉ đạo và tiến hành các cuộc vận động, các phong trào thể dục thể thao, các đại hội thể dục, thể thao.
Lĩnh vực du lịch: Rà soát hoàn thiện các cơ chế, chính sách khuyến khích ưu đãi đầu tư, ưu tiên các nhà đầu tư chiến lược thực hiện các dự án du lịch trọng điểm. Đẩy mạnh liên kết, chú trọng công tác quảng bá, xúc tiến để thu hút nguồn vốn đầu tư từ các tổ chức, cá nhân trong nước, các nhà đầu tư nước ngoài, các nguồn vốn tài trợ, thúc đẩy phát triển mô hình liên doanh, liên kết trong phát triển du lịch.

Nguồn: Báo cáo chuyên đề của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổng kết Chương trình tổng thể cải cách
hành chính nhà nước giai đoạn 2011 - 2020 của Ban Chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ