Tin Video

Phóng sự: Đô thị thông minh

Thống kê truy cập

Lượt truy cập : 20.738.848

Khách Online : 45

CCHC Bộ, ngành

Một số đề xuất mới

15:09 11/11/2021 | Lượt xem : 971

  • Xem với cỡ chữ T T
  • Inverts
  • Lượt xem : 971
* Bộ Tài chính vừa thông báo lấy ý kiến góp ý của Nhân dân với dự thảo Nghị định quy định mức thu lệ phí trước bạ đối với ô tô, rơ moóc hoặc sơ mi rơ moóc được kéo bởi ô tô và các loại xe tương tự ô tô sản xuất, lắp ráp trong nước. Theo đó, dự thảo đề xuất tiếp tục giảm 50% lệ phí trước bạ đối với ô tô sản xuất, lắp ráp trong nước.
Bộ Tài chính cho biết, để tháo gỡ khó khăn của doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp ô tô trong nước trước bối cảnh dịch COVID-19, ngày 28/6/2020, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 70/2020/NĐ-CP quy định mức thu lệ phí trước bạ đối với ô tô sản xuất, lắp ráp trong nước đến hết ngày 31/12/2020. Theo đó, mức thu lệ phí trước bạ đối với ô tô sản xuất, lắp ráp trong nước từ ngày 28/6/2020 đến hết ngày 31/12/2020 bằng 50% mức thu lệ phí trước bạ đối với ô tô quy định tại Nghị định số 20/2019/NĐ-CP ngày 21/02/2019 về lệ phí trước bạ.

Việc điều chỉnh giảm 50% mức thu lệ phí trước bạ đối với xe ô tô sản xuất, lắp ráp trong nước theo Nghị định số 70/2020/NĐ-CP đã mang lại những tác động tích cực. Cụ thể, đối với người tiêu dùng: Góp phần trực tiếp giảm chi phí khi đăng ký quyền sở hữu ô tô, làm tăng khả năng tiếp cận sản phẩm ô tô của người dân, đặc biệt là các đối tượng có thu nhập trung bình cao, từ đó khuyến khích nhu cầu sở hữu xe của người dân và kích cầu tiêu dùng.

Đối với nhà sản xuất, lắp ráp ô tô trong nước: Hỗ trợ các nhà sản xuất, nhà phân phối tiêu thụ được lượng xe tồn kho kể từ khi dịch bệnh COVID-19 bùng phát, cũng như nối lại chuỗi cung ứng, gia tăng sản xuất.

Tuy nhiên, đến nay, dịch COVID-19 tại Việt Nam vẫn đang diễn biến phức tạp và khó lường, số ca nhiễm mới đã thấp hơn mức đỉnh dịch nhưng vẫn ở con số cao. Nguy cơ đứt gãy chuỗi cung ứng đang đe dọa nghiêm trọng đến các ngành sản xuất, trong đó có ngành sản xuất, lắp ráp ô tô, xuất phát từ nguyên nhân lượng xe tồn kho cao, công suất thấp do không thể duy trì số lượng người lao động và sức mua trong nước sụt giảm mạnh. Dự báo của các doanh nghiệp cho thấy, thị trường ô tô không chỉ bị ảnh hưởng nặng nề trong năm 2021 mà có thể còn kéo dài sang các năm tiếp theo.

Do đó, để tiếp tục tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp ô tô trong nước trước ảnh hưởng tiêu cực của dịch COVID-19, kích cầu tiêu dùng, trên cơ sở pháp lý, cơ sở thực tiễn và qua những tác động tích cực của việc giảm 50% mức thu lệ phí trước bạ năm 2020 đối với ô tô sản xuất, lắp ráp trong nước thì việc trình Chính phủ dự án Nghị định quy định giảm mức thu lệ phí trước bạ đối với ô tô sản xuất, lắp ráp trong nước là cần thiết và phù hợp.
Tiếp tục giảm 50% mức thu lệ phí trước bạ đối với ô tô sản xuất, lắp ráp trong nước
Để thực hiện được mục tiêu, quan điểm đã nêu trên, kịp thời tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp ô tô trong nước trước ảnh hưởng của dịch COVID-19, trên cơ sở ý kiến của Thường trực Chính phủ tại cuộc họp ngày 20/10/2021, Bộ Tài chính đề xuất trình Chính phủ quy định mức thu lệ phí trước bạ đối với ô tô sản xuất, lắp ráp trong nước bằng 50% mức thu hiện hành và có hiệu lực thi hành từ ngày 15/11/2021, cụ thể như sau:

1. Từ ngày ... tháng ... năm 2021 đến hết ngày ... tháng ... năm 2022: Mức thu LPT lệ phí trước bạ lần đầu bằng 50% mức thu quy định tại Nghị định số 20/2019/NĐ-CP ngày 21/02/2019 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 140/2016/NĐ-CP về lệ phí trước bạ; các Nghị quyết hiện hành của Hội đồng nhân dân hoặc Quyết định hiện hành của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương về mức thu lệ phí trước bạ tại địa phương và các văn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế (nếu có).

2. Từ ngày ... tháng ... năm 2022 trở đi: Mức thu lệ phí trước bạ lần đầu tiếp tục thực hiện theo quy định tại Nghị định số 20/2019/NĐ-CP của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 140/2016/NĐ-CP về lệ phí trước bạ; các Nghị quyết hiện hành của Hội đồng nhân dân hoặc Quyết định hiện hành của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương về mức thu lệ phí trước bạ tại địa phương và các văn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế (nếu có).
Bộ Tài chính dự kiến thời gian thực hiện chính sách và hiệu lực thi hành của Nghị định từ ngày 15/11/2021 đến hết ngày 15/5/2022. Tuy nhiên, trường hợp Nghị định được Chính phủ ký ban hành sau ngày 15/11/2021, Bộ Tài chính trình Chính phủ thời gian thực hiện và hiệu lực thi hành của Nghị định được quy định từ ngày 01/12/2021 đến hết ngày 31/5/2022.

Do đó, tại dự thảo Nghị định trình Chính phủ, Bộ Tài chính đang để trống ngày có hiệu lực như nêu trên.
Đánh giá tác động của chính sách này, Bộ Tài chính cho biết, việc tiếp tục giảm 50% mức thu lệ phí trước bạ đối với ô tô sản xuất, lắp ráp trong nước sẽ có những tác động tích cực như: Kích cầu tiêu dùng, khuyến khích người dân mua sắm, sở hữu tài sản; tác động thúc đẩy doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp ô tô trong nước nối lại chuỗi cung ứng, tăng cường mở rộng đầu tư sản xuất, lắp ráp ô tô tại Việt Nam.

Bên cạnh đó, tác động tăng tổng thu ngân sách nhà nước (mặc dù việc giảm 50% mức thu lệ phí trước bạ sẽ làm giảm số thu lệ phí trước bạ theo chính sách, nhưng do số lượng xe ô tô tiêu thụ tăng lên nên tổng số thu ngân sách nhà nước về lệ phí trước bạ, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế giá trị gia tăng vẫn tăng lên). Theo thống kê thì trong 6 tháng cuối năm 2020, số thu lệ phí trước bạ giảm theo chính sách là 7.314 tỷ đồng nhưng tổng số thu ngân sách nhà nước tăng 14.110 tỷ đồng).

* Bộ Công an đang lấy ý kiến của Nhân dân đối với dự thảo Thông tư quy định chi tiết thi hành thi đua chấp hành án phạt tù, khen thưởng, xử lý phạm nhân vi phạm.


Dự thảo Thông tư này quy định chi tiết thi hành về đối tượng, nguyên tắc, tiêu chí thi đua chấp hành án phạt tù, hình thức, điều kiện, tiêu chuẩn, thẩm quyền, hồ sơ, trình tự, thủ tục khen thưởng phạm nhân.

Trong đó, dự thảo nêu rõ nguyên tắc khen thưởng, xử lý phạm nhân vi phạm, bảo đảm thực hiện đầy đủ các nguyên tắc được quy định tại Điều 4 Luật Thi hành án hình sự trong khen thưởng, xử lý phạm nhân vi phạm.

Phạm nhân có thành tích phải được khen thưởng kịp thời, bảo đảm khách quan, công bằng, công khai, nhằm động viên, khuyến khích phạm nhân tích cực thi đua chấp hành án, nâng cao hiệu quả công tác thi hành án phạt tù.

Khen thưởng phải căn cứ vào tính chất, mức độ thành tích, kết quả của tập thể, cá nhân phạm nhân đã đạt được; mức khen thưởng phải tương xứng với thành tích, kết quả đạt được của tập thể, cá nhân phạm nhân.

Một hình thức khen thưởng được tặng nhiều lần cho một tập thể, cá nhân phạm nhân; một thành tích được xem xét khen thưởng bằng một hoặc nhiều hình thức khác nhau quy định tại Khoản 1 Điều 41 Luật Thi hành án hình sự; không khen thưởng nhiều lần đối với một thành tích. Trong cùng một phong trào thi đua hoặc kế hoạch chuyên đề, nếu một phạm nhân có nhiều thành tích, thì áp dụng chung khen thưởng một lần, không tách riêng từng thành tích để khen thưởng.

Xử lý phạm nhân vi phạm phải bảo đảm thực hiện nghiêm quy định tại Điều 43 Luật Thi hành án hình sự, Điều 20 Nghị định số 133/2020/NĐ-CP ngày 09/11/2020 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thi hành án hình sự.

Bên cạnh đó, dự thảo cũng nêu rõ hành vi nghiêm cấm trong khen thưởng, xử lý phạm nhân vi phạm. Cụ thể, khen thưởng không đúng đối tượng, điều kiện, tiêu chuẩn, trình tự, thủ tục, thẩm quyền; làm giả, làm sai lệch hồ sơ, tài liệu hoặc can thiệp trái phép, lợi dụng khen thưởng nhằm nâng mức xếp loại chấp hành án phạt tù, đề nghị đặc xá, giảm thời hạn chấp hành án phạt tù, tha tù trước thời hạn có điều kiện cho phạm nhân hoặc vì mục đích vụ lợi khác.

Xử lý phạm nhân vi phạm không đúng quy định pháp luật; làm giả, sai lệch hồ sơ xử lý phạm nhân vi phạm; can thiệp trái phép, lợi dụng kỷ luật xâm hại quyền, lợi ích hợp pháp của phạm nhân.

* Bộ Xây dựng đang xây dựng dự thảo Nghị định thay thế Nghị định số 117/2015/NĐ-CP ngày 12/11/2015 của Chính phủ về xây dựng, quản lý và sử dụng hệ thống thông tin về nhà ở và thị trường bất động sản.


Bộ Xây dựng cho biết, sau 5 năm thực hiện Nghị định số 117/2015/NĐ-CP bước đầu đã hình thành một hệ thống thông tin gồm cơ sở dữ liệu, hệ thống phần mềm và hạ tầng công nghệ thông tin được xây dựng, quản lý đồng bộ, thống nhất từ Trung ương đến các địa phương. Các thông tin, số liệu, dữ liệu chuyên ngành về nhà ở, thị trường bất động sản đã thường xuyên được cập nhật vào hệ thống cơ sở dữ liệu chung, trên cơ sở đó, cơ quan quản lý chuyên môn đã nghiên cứu, phân tích, đánh giá, đưa ra các nhận định, dự báo về thị trường bất động sản và thực hiện công bố công khai các thông tin tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến lĩnh vực nhà ở và thị trường bất động sản được tiếp cận thông tin phục vụ việc quản lý, hoạch định chính sách, hoạt động đầu tư, kinh doanh bất động sản.

Tuy nhiên, kết quả thực hiện xây dựng hệ thống thông tin về nhà ở và thị trường bất động sản đạt được còn thấp so với yêu cầu đặt ra. Đến nay trên địa bàn cả nước mới chỉ có 15 địa phương hoàn thành việc xây dựng hệ thống thông tin về nhà ở và thị trường bất động sản.

Qua theo dõi việc thực thi pháp luật và tổng hợp ý kiến của các địa phương cho thấy có một số quy định của Nghị định số 117/2015/NĐ-CP không còn phù hợp với thực tiễn cần được điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung. Do vậy, việc xây dựng Nghị định thay thế Nghị định số 117/2015/NĐ-CP là cần thiết nhằm khắc phục những tồn tại, vướng mắc trong xây dựng, quản lý và sử dụng hệ thống thông tin về nhà ở và thị trường bất động sản thời gian qua; công khai, minh bạch các thông tin về nhà ở và thị trường bất động sản phục vụ công tác quản lý nhà nước của các bộ, ngành, địa phương có liên quan, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và các nhu cầu chính đáng khác trong xã hội.

Chỉ tiêu thống kê về nhà ở theo hướng đơn giản, dễ dàng thu thập thông tin, đảm bảo mục tiêu quản lý

Đối với cơ sở dữ liệu về nhà ở: Dự thảo quy định về nội dung cơ sở dữ liệu về nhà ở quốc gia, cơ sở dữ liệu về nhà ở địa phương; thông tin, dữ liệu về kế hoạch, kết quả thực hiện chương trình kế hoạch phát triển nhà ở, số lượng, diện tích theo từng trường hợp phát triển nhà ở; thông tin, dữ liệu về nhà ở (số lượng, diện tích nhà ở thương mại, nhà ở xã hội, nhà ở công vụ, nhà, đất tái định cư...) và biến động liên quan đến quá trình quản lý, sử dụng đất, nhà ở, bất động sản khác; chỉ tiêu thống kê về nhà ở theo hướng đơn giản, dễ dàng thu thập thông tin và đảm bảo mục tiêu quản lý nhà nước về nhà ở.

Cụ thể, thông tin dữ liệu về Chương trình, Kế hoạch phát triển nhà ở và kết quả thực hiện phát triển nhà ở, các trường hợp phát triển nhà ở và trường hợp xây dựng nhà ở theo dự án, bao gồm: Số lượng, diện tích nhà ở thương mại; số lượng, diện tích nhà ở xã hội; số lượng, diện tích nhà ở công vụ; số lượng, diện tích nhà ở, đất ở để phục vụ tái định cư; số lượng nhà ở được hỗ trợ theo chương trình mục tiêu quốc gia về nhà ở.

Đối với cơ sở dữ liệu về thị trường bất động sản: Dự thảo quy định về nội dung cơ sở dữ liệu về thị trường bất động sản quốc gia, cơ sở dữ liệu về thị trường bất động sản địa phương; thông tin, dữ liệu về dự án bất động sản; thông tin, dữ liệu về sàn giao dịch bất động sản và tình hình giao dịch bất động sản thông qua sàn giao dịch; thông tin, dữ liệu về tình hình giao dịch bất động sản thông qua hoạt động công chứng, chứng thực; chỉ tiêu thống kê về thị trường bất động sản theo hướng đơn giản, dễ dàng thu thập thông tin và đảm bảo mục tiêu quản lý nhà nước về thị trường bất động sản.

Theo đó, thông tin chung về dự án bất động sản bao gồm: Thông tin về chủ đầu tư; thông tin về vị trí; quy mô diện tích dự án; các chỉ tiêu quy hoạch chi tiết 1/500 theo quyết định đã được phê duyệt của dự án; giấy phép xây dựng hoặc thông báo khởi công của dự án; thông báo dự án đủ điều kiện bán nhà (nếu là dự án có nhà ở).

Thông tin về loại dự án bất động sản bao gồm: Dự án đầu tư xây dựng nhà ở, dự án đầu tư xây dựng khu đô thị; dự án đầu tư xây dựng trung tâm thương mại, văn phòng cho thuê; dự án đầu tư xây dựng khu du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, khách sạn…

Thông tin, dữ liệu về số lượng, diện tích loại bất động sản bao gồm: Số lượng, diện tích đất nền cho xây dựng nhà ở; số lượng, diện tích nhà ở riêng lẻ (biệt thự, nhà liền kề); số lượng, diện tích căn hộ chung cư để ở; số lượng, diện tích mặt bằng thương mại, dịch vụ, văn phòng cho thuê; số lượng, diện tích biệt thự du lịch, căn hộ du lịch, khách sạn; số lượng, diện tích nhà xưởng, đất sản xuất trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp…

* Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đang lấy ý kiến Nhân dân đối với dự thảo Thông tư hướng dẫn vị trí việc làm lãnh đạo, quản lý và chức danh nghề nghiệp chuyên ngành, cơ cấu viên chức theo chức danh nghề nghiệp và định mức số lượng người làm việc trong đơn vị sự nghiệp công lập thuộc ngành, lĩnh vực ngân hàng.

Dự thảo nêu rõ định mức số lượng người làm việc trong đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Theo đó, đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam căn cứ số lượng người làm việc đã được giao, phân tích thực trạng sử dụng số lượng người làm việc, lộ trình tinh giản biên chế và Khoản 2 Điều 4 Nghị định số 106/2020/NĐ-CP quy định về vị trí việc làm và số lượng người làm việc trong đơn vị sự nghiệp công lập để xác định số lượng người làm việc phù hợp với quy định sau đây: 1) Về khung số lượng cấp phó của người đứng đầu các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc ngành ngân hàng: thực hiện theo quy định tại Khoản 2 Điều 6 Nghị định số 120/2020/NĐ-CP ngày 07/10/2020 của Chính phủ quy định về thành lập, tổ chức lại, giải thể đơn vị sự nghiệp công lập.
2) Về khung số lượng cấp phó của người đứng đầu tổ chức thuộc đơn vị sự nghiệp công lập thuộc ngành ngân hàng thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 6 Nghị định số 120/2020 NĐ-CP. 3) Trình tự, thủ tục phê duyệt, điều chỉnh vị trí việc làm, số lượng người làm việc thực hiện theo quy định tại Nghị định số 106/2020/NĐ-CP.
Bên cạnh đó, dự thảo quy định cơ cấu viên chức theo chức danh nghề nghiệp trong đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Cụ thể, tỷ lệ viên chức làm việc tại các vị trí việc làm chức danh nghề nghiệp chuyên ngành và vị trí việc làm chức danh nghề nghiệp chuyên môn dùng chung chiếm tỉ lệ tối thiểu 65% tổng số lượng người làm việc của đơn vị sự nghiệp công lập.

Tỷ lệ viên chức có chức danh nghề nghiệp theo hạng hoặc tương đương phải bảo đảm cơ cấu hợp lý, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, mô hình tổ chức, mức độ phức tạp của công việc của vị trí việc làm.
Ngoài ra, dự thảo cũng nêu rõ nguyên tắc xác định vị trí việc làm và số lượng người làm việc. Thực hiện theo quy định tại Điều 3 Nghị định số 106/2020/NĐ-CP ngày 10/9/2020 của Chính phủ quy định về vị trí việc làm và số lượng người làm việc trong đơn vị sự nghiệp công lập.

Mỗi vị trí việc làm phải có tên gọi thể hiện tính chất công việc, gắn với hạng chức danh nghề nghiệp hoặc tương đương và nội dung công việc cụ thể; đảm bảo nguyên tắc một người có thể đảm nhiệm một hoặc nhiều vị trí việc làm, một vị trí việc làm có thể do một hoặc nhiều người đảm nhiệm.

* Bộ Tư pháp đang dự thảo Thông tư quy định tiêu chí phân loại, điều kiện thành lập, sáp nhập, hợp nhất, giải thể đơn vị sự nghiệp công lập thuộc ngành, lĩnh vực tư pháp.

Bộ Tư pháp cho biết, việc xây dựng Dự thảo Thông tư nhằm cụ thể hóa quy định của Nghị định số 120/2020/NĐ-CP quy định về thành lập, tổ chức lại, giải thể đơn vị sự nghiệp công lập và các quy định pháp luật liên quan, tạo cơ sở pháp lý cụ thể, rõ ràng, minh bạch, thuận lợi cho tổ chức, hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập phù hợp với mục tiêu “Đổi mới căn bản, toàn diện và đồng bộ hệ thống các đơn vị sự nghiệp công lập, bảo đảm tinh gọn, có cơ cấu hợp lý, có năng lực tự chủ, quản trị tiên tiến, hoạt động hiệu lực, hiệu quả;… Giảm mạnh đầu mối, khắc phục tình trạng manh mún, dàn trải và trùng lắp; tinh giản biên chế gắn với cơ cấu lại, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, viên chức…”.

Dự thảo nêu rõ, nguyên tắc thành lập, sáp nhập, hợp nhất, giải thể các đơn vị sự nghiệp công lập phải phù hợp với quy định tại Điều 4 Nghị định số 120/2020/NĐ-CP ngày 07/10/2020 của Chính phủ quy định về thành lập, tổ chức lại, giải thể đơn vị sự nghiệp công lập; bảo đảm duy trì một phần hoặc toàn bộ chức năng, nhiệm vụ sự nghiệp công phục vụ quản lý nhà nước, cung ứng dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu và bảo đảm cung ứng dịch vụ sự nghiệp công mang tính đặc thù của ngành, lĩnh vực tư pháp theo quy định của pháp luật chuyên ngành.

Đơn vị sự nghiệp công lập được thành lập khi đáp ứng điều kiện thành lập đơn vị sự nghiệp công lập quy định tại Khoản 1 Điều 5 Nghị định số 120/2020/NĐ-CP; phù hợp với tiêu chí phân loại đơn vị sự nghiệp công lập.
Bên cạnh đó, dự thảo cũng quy định rõ điều kiện sáp nhập đơn vị sự nghiệp công lập. Theo đó, đơn vị bị sáp nhập khi không đáp ứng đủ các điều kiện thành lập đơn vị sự nghiệp công lập.

Đơn vị nhận sáp nhập có chức năng, nhiệm vụ hoặc đã được bổ sung chức năng, nhiệm vụ phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của đơn vị bị sáp nhập hoặc có lĩnh vực hoạt động tương đồng với đơn vị bị sáp nhập; có năng lực tiếp nhận toàn bộ hoặc một phần nhân lực, tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của các đơn vị bị sáp nhập; có phương án tiếp tục hoạt động với chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức sau khi nhận sáp nhập bảo đảm chất lượng, hiệu quả được cấp có thẩm quyền phê duyệt và đảm bảo đáp ứng điều kiện thành lập đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định; phù hợp với tiêu chí phân loại đơn vị sự nghiệp công lập.

Đơn vị sự nghiệp công lập sau khi nhận sáp nhập phải bảo đảm mức độ tự chủ về tài chính không thấp hơn mức độ tự chủ về tài chính cao nhất của các tổ chức thực hiện sáp nhập tại thời điểm bắt đầu tiến hành hoạt động sáp nhập; trường hợp thực hiện sáp nhập các đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính ở các mức độ khác nhau thì mức độ tự chủ về tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập sau sáp nhập thực hiện theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền.

* Bộ Công Thương đang đề nghị xây dựng Nghị định thay thế Nghị định số 124/2017/NĐ-CP ngày 15/11/2017 của Chính phủ quy định về đầu tư ra nước ngoài trong hoạt động dầu khí.

Bộ Công Thương cho biết, việc xây dựng Nghị định thay thế Nghị định số 124/2017/NĐ-CP quy định về đầu tư ra nước ngoài trong hoạt động dầu khí nhằm mục đích bổ sung, sửa đổi một số quy định về đầu tư ra nước ngoài trong hoạt động dầu khí phù hợp với Luật Đầu tư năm 2020 và thông lệ công nghiệp dầu khí quốc tế; nâng cao tính thực tiễn, khả thi và tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư, hạn chế tối đa những khó khăn, vướng mắc có thể phát sinh.

Quan điểm xây dựng Nghị định là đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp; tính thống nhất, đồng bộ với các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành có liên quan về đầu tư ra nước ngoài trong hoạt động dầu khí, đồng thời khắc phục những bất cập, hạn chế của quy định pháp luật hiện hành.

Dự án dầu khí có vốn đầu tư ra nước ngoài dưới 800 tỷ đồng không phải xin chấp thuận chủ trương

Theo Bộ Công Thương, Nghị định mới sẽ giải quyết 2 nhóm vấn đề quan trọng. Nhóm vấn đề thứ nhất là bổ sung, hoàn thiện các quy định liên quan đến đầu tư ra nước ngoài trong hoạt động dầu khí phù hợp với quy định của Luật Đầu tư năm 2020.

Theo đó, dự thảo sửa đổi, bổ sung một số điều khoản liên quan đến các quy định mới về đầu tư ra nước ngoài trong Luật Đầu tư năm 2020, cụ thể:

Dự án dầu khí có vốn đầu tư ra nước ngoài dưới 800 tỷ đồng không phải xin chấp thuận chủ trương đầu tư ra nước ngoài.

Cơ quan, người có thẩm quyền chấp thuận chủ trương đầu tư ra nước ngoài thì có thẩm quyền chấp thuận điều chỉnh chủ trương đầu tư ra nước ngoài; cơ quan, người có thẩm quyền quyết định đầu tư ra nước ngoài thì có thẩm quyền quyết định điều chỉnh nội dung quyết định đầu tư ra nước ngoài.

Nhóm vấn đề thứ hai, là bổ sung, hoàn thiện các quy định liên quan đến đầu tư ra nước ngoài trong hoạt động dầu khí nhằm tháo gỡ các vướng mắc phát sinh thời gian qua.

Cụ thể, sửa đổi, bổ sung một số quy định liên quan đến các vấn đề sau: Việc điều chỉnh tăng vốn đầu tư ra nước ngoài để giải quyết các nghĩa vụ phải thực hiện theo hợp đồng dầu khí, thỏa thuận điều hành chung đã ký và quy định pháp luật nước sở tại như: Nghĩa vụ thu dọn mỏ, đền bù cam kết, nộp thuế, quỹ đào tạo… trong khi Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài đã hết hạn mức và dự án đã kết thúc hoặc đang trong quá trình thực hiện các thủ tục kết thúc.

Bù trừ khi xác định vốn đầu tư ra nước ngoài của nhà đầu tư tại mỗi thời điểm đối với các khoản tiền đã chuyển về nước, bao gồm: Lợi nhuận được chia, các khoản thuế được nước sở tại hoàn lại,...

Pháp nhân thành lập ở nước ngoài/công ty điều hành có thể thực hiện nhiều dự án và thành lập địa điểm kinh doanh phù hợp với pháp luật của nước sở tại.

Trong giai đoạn đầu triển khai dự án, nhà đầu tư Việt Nam chưa phải bỏ vốn đầu tư do được nhà đầu tư nước ngoài gánh vốn.

* Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đang dự thảo Thông tư quy định chuẩn người đứng đầu cơ sở giáo dục nghề nghiệp.

Dự thảo Thông tư này quy định chuẩn năng lực thực hiện nhiệm vụ của người đứng đầu cơ sở giáo dục nghề nghiệp (bao gồm hiệu trưởng trường cao đẳng, hiệu trưởng trường trung cấp, giám đốc trung tâm giáo dục nghề nghiệp) và hướng dẫn sử dụng chuẩn năng lực thực hiện nhiệm vụ của người đứng đầu cơ sở giáo dục nghề nghiệp.

Theo dự thảo, mục đích ban hành quy định chuẩn năng lực thực hiện nhiệm vụ của người đứng đầu cơ sở giáo dục nghề nghiệp để người đứng đầu cơ sở giáo dục nghề nghiệp thực hiện tự đánh giá năng lực thực hiện nhiệm vụ và tự xây dựng kế hoạch rèn luyện, bồi dưỡng đạt chuẩn để đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục nghề nghiệp và hội nhập quốc tế; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị hoạt động của cơ sở giáo dục nghề nghiệp.

Dự thảo Thông tư nêu rõ 4 tiêu chuẩn năng lực thực hiện nhiệm vụ của người đứng đầu cơ sở giáo dục nghề nghiệp:

Tiêu chuẩn 1: Năng lực chuyên môn, nghiệp vụ: Người đứng đầu cơ sở giáo dục nghề nghiệp có đủ các tiêu chuẩn đối với chức danh hiệu trưởng trường cao đẳng, hiệu trưởng trường trung cấp, giám đốc trung tâm giáo dục nghề nghiệp theo quy định của Luật Giáo dục nghề nghiệp; thường xuyên học tập, rèn luyện để nâng cao năng lực bản thân đáp ứng yêu cầu đổi mới, phát triển giáo dục nghề nghiệp.

Tiêu chuẩn 2: Năng lực điều hành, lãnh đạo cơ sở giáo dục nghề nghiệp: Người đứng đầu cơ sở giáo dục nghề nghiệp có năng lực điều hành cơ sở giáo dục nghề nghiệp phù hợp với môi trường giáo dục nghề nghiệp mở, linh hoạt, hiện đại; thích ứng với xu thế phát triển trong tương lai.

Tiêu chuẩn 3: Năng lực quản trị cơ sở giáo dục nghề nghiệp: Người đứng đầu cơ sở giáo dục nghề nghiệp có năng lực thiết lập cơ cấu, tổ chức; năng lực quản trị tổ chức bộ máy, nhân sự, tài chính, tài sản, cơ sở vật chất, tổ chức đào tạo, kiểm tra, đánh giá, kiểm định chất lượng, nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ phù hợp với sứ mạng, tầm nhìn, chức năng, nhiệm vụ và chiến lược phát triển cơ sở giáo dục nghề nghiệp.

Tiêu chuẩn 4: Năng lực tạo lập, hợp tác, phát triển các mối quan hệ xã hội: Người đứng đầu cơ sở giáo dục nghề nghiệp có năng lực, kỹ năng đàm phán, hợp tác phát triển mối quan hệ với đối tác, nhà tài trợ, đơn vị truyền thông; chia sẻ giá trị, thực hiện trách nhiệm xã hội.

Dự thảo cũng đề xuất quy trình đánh giá, xếp loại kết quả đánh giá theo tiêu chuẩn. Theo đó, người đứng đầu cơ sở giáo dục nghề nghiệp tự đánh giá theo chuẩn.

Phó hiệu trưởng/Phó giám đốc trung tâm giáo dục nghề nghiệp chủ trì, tổ chức lấy ý kiến đánh giá mức độ đạt chuẩn người đứng đầu cơ sở giáo dục nghề nghiệp.

Thủ trưởng cơ quan, đơn vị quản lý trực tiếp cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập, hội đồng quản trị hoặc thành viên sở hữu cơ sở giáo dục nghề nghiệp tư thục thực hiện đánh giá mức độ đạt chuẩn của người đứng đầu trên cơ sở kết quả tự đánh giá của người đứng đầu, ý kiến của đội ngũ cán bộ quản lý, nhà giáo, người lao động, đại diện người học và kết quả thực hiện nhiệm vụ thông qua các minh chứng xác thực, phù hợp; thực hiện thông báo kết quả đánh giá mức độ đạt chuẩn năng lực thực hiện nhiệm vụ của người đứng đầu cơ sở giáo dục nghề nghiệp đến người đứng đầu và cơ sở giáo dục nghề nghiệp.

* Bộ Kế hoạch và Đầu tư đang đề nghị xây dựng dự án Luật Đấu thầu (sửa đổi) nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện Luật, nâng cao chất lượng, hiệu quả và bảo đảm cạnh tranh, công bằng, minh bạch của công tác đấu thầu.

Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết, Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 được Quốc hội Khóa XIII thông qua tại Kỳ họp thứ VI, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2014. Việc ban hành và thực hiện Luật này trong thời gian qua đã tạo dựng khung pháp lý quan trọng điều chỉnh hoạt động mua sắm, quản lý sử dụng vốn, tài sản của nhà nước, góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư, mua sắm bằng nguồn ngân sách nhà nước.

Tuy nhiên, thực tiễn thi hành Luật Đấu thầu trong thời gian qua cũng đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải sửa đổi toàn diện Luật này bởi những lý do chủ yếu như sau: Đến nay các Luật có liên quan đến Luật Đấu thầu đã được sửa đổi, bổ sung (Luật Xây dựng, Luật Ngân sách nhà nước, Luật Doanh nghiệp, Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp, Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, Luật Kiến trúc, Luật PPP…). Do đó, cần thiết phải sửa đổi, bổ sung các quy định của Luật Đấu thầu có liên quan đến các luật nêu trên nhằm bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất giữa các luật.

Bên cạnh đó, thực tiễn công tác mua sắm, đấu thầu trong thời gian qua đã đặt ra yêu cầu phải sửa đổi bổ sung quy định của pháp luật đấu thầu để đáp ứng đòi hỏi cấp bách trong việc mua sắm phục vụ công tác phòng chống dịch bệnh; cải tiến quy trình lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư nhằm góp phần thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công, sớm đưa công trình vào khai thác, kịp thời phục vụ nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội…

Tại dự thảo, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đề xuất chính sách "Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác đấu thầu, bảo đảm cạnh tranh, công bằng, minh bạch trong hoạt động đấu thầu".

Theo đó, mở rộng phạm vi điều chỉnh của Luật Đấu thầu theo hướng bổ sung hoạt động đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư đối với dự án đầu tư kinh doanh (dự án phải tổ chức đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư theo quy định của pháp luật chuyên ngành, pháp luật xã hội hoá, dự án có từ 2 nhà đầu tư quan tâm thực hiện dự án...).

Sửa đổi, bổ sung các quy định về thời gian lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư theo hướng cắt giảm thời gian thực hiện một số khâu, đồng thời bảo đảm tương thích với các tính năng của Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia (như: Bỏ thủ tục thẩm định hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu, kế hoạch lựa chọn nhà thầu; điều chỉnh các mốc thời gian cho phù hợp đối với một số công việc do được thực hiện trực tiếp trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia); quy định thống nhất, cụ thể các mốc thời gian tối đa, tối thiểu cho từng chủ thể tham gia vào quá trình lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư nhằm tiết kiệm thời gian tổ chức lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư nhưng vẫn bảo đảm các mục tiêu cơ bản của công tác đấu thầu.

Đồng thời, dự thảo cũng đề xuất chính sách "Thúc đẩy sản xuất trong nước, mua sắm các sản phẩm đổi mới sáng tạo, mua sắm xanh nhằm mục tiêu phát triển bền vững, tạo công ăn việc làm cho nhóm lao động yếu thế".

Cụ thể, để thúc đẩy sản xuất trong nước, mua sắm các sản phẩm đổi mới sáng tạo: Bổ sung quy định cụ thể về cách tính ưu tiên, ưu đãi đối với các loại hàng hóa này so với hàng hóa nhập khẩu hoặc hàng hóa có tỷ lệ nội địa hóa thấp. Nhà thầu chào các loại hàng hóa có tỷ lệ nội địa hóa lớn sẽ được ưu tiên; các hàng hóa có tỉ lệ nội địa hóa cao sẽ được ưu tiên sử dụng để thay thế cho hàng nhập khẩu.

Bổ sung quy định về quy trình, thủ tục, năng lực, kinh nghiệm đối với nhà thầu sản xuất, cung cấp các sản phẩm đổi mới sáng tạo, điều kiện mua sắm hàng hóa, dịch vụ là các sản phẩm đổi mới, sáng tạo. Bổ sung quy định ưu tiên sử dụng các sản phẩm đổi mới sáng tạo để thay thế hàng nhập khẩu.

Bổ sung nội dung mua sắm công xanh nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bền vững, tăng trưởng xanh. Bổ sung quy định về lộ trình bắt buộc các chủ đầu tư khi thực hiện mua sắm phải xem xét và đặt yêu cầu về sản phẩm, dịch vụ cho nhà cung ứng dịch vụ, cụ thể là yêu cầu các sản phẩm phải thân thiện với môi trường, ít phát thải, tiêu hao ít năng lượng... hướng tới một nền kinh tế xanh.

Bên cạnh đó, dự thảo cũng đề xuất một chính sách quan trọng nữa là: Nâng cao hiệu lực, hiệu quả của công tác quản lý Nhà nước về đấu thầu; phòng chống tiêu cực, tham nhũng, lãng phí trong hoạt động đấu thầu.

Giải pháp thực hiện chính sách này là bổ sung quy định về thanh tra, kiểm tra, giám sát, kiểm toán các hoạt động đấu thầu theo hướng cụ thể hơn, chặt chẽ hơn, đặc biệt cần bổ sung quy trình kiểm tra, giám sát cụ thể và các quy định về hậu thanh tra, kiểm tra, giám sát nhằm kịp thời phát hiện, ngăn chặn và đẩy lùi các hành vi vi phạm trong đấu thầu, góp phần thực hiện tốt công tác phòng chống tiêu cực, tham nhũng, lãng phí. Bổ sung chế tài xử lý vi phạm đối với người có thẩm quyền, chủ đầu tư, bên mời thầu.

* Bộ Tài chính đang lấy ý kiến góp ý của nhân dân với dự thảo Thông tư hướng dẫn tái cơ cấu doanh nghiệp không đủ điều kiện cổ phần hóa và chuyển nhượng lô cổ phần kèm nợ phải thu của doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ có chức năng mua, bán, xử lý nợ.

Dự thảo Thông tư này hướng dẫn tái cơ cấu doanh nghiệp không đủ điều kiện cổ phần hóa theo quy định tại Khoản 2 Điều 4 Nghị định số 126/2017/NĐ-CP, điểm b Khoản 2 Điều 1 Nghị định số 140/2020/NĐ-CP thông qua xử lý nợ để chuyển thành công ty cổ phần.

Dự thảo nêu rõ nguyên tắc tái cơ cấu doanh nghiệp thông qua hoạt động mua bán nợ. Theo đó, phương án tái cơ cấu được thực hiện trên nguyên tắc đồng thuận giữa cơ quan đại diện chủ sở hữu doanh nghiệp tái cơ cấu với Công ty mua bán nợ Việt Nam và/hoặc các chủ nợ tham gia tái cơ cấu (lập biên bản thỏa thuận giữa các bên). Công ty mua bán nợ Việt Nam được quyền chủ động đàm phán mua nợ với các chủ nợ và đề xuất phương án tái cơ cấu doanh nghiệp phù hợp với quy định của pháp luật.

Công ty mua bán nợ Việt Nam chỉ quyết định mua nợ sau khi đã thỏa thuận, thống nhất với cơ quan đại diện chủ sở hữu và có kết quả đàm phán mua nợ với các chủ nợ của doanh nghiệp tái cơ cấu. Phương án mua bán nợ để tái cơ cấu doanh nghiệp phải đảm bảo có tính khả thi, có khả năng thu hồi vốn hiệu quả và đủ nguồn chênh lệch giữa giá vốn mua nợ với giá trị sổ sách khoản nợ để xử lý tài chính, chuyển đổi thành công doanh nghiệp sang công ty cổ phần theo quy định.

Chuyển nợ thành vốn góp và bán cổ phần lần đầu

Công ty mua bán nợ Việt Nam và các chủ nợ tham gia tái cơ cấu doanh nghiệp được chuyển nợ thành vốn góp cổ phần theo nguyên tắc thỏa thuận và được cơ quan đại diện chủ sở hữu phê duyệt trong phương án tái cơ cấu.

Doanh nghiệp tái cơ cấu thực hiện trình tự, thủ tục, phương thức bán và giá bán cổ phần lần đầu theo quy định tại Nghị định số 126/2017/NĐ-CP, Nghị định số 140/2020/NĐ-CP và Thông tư số 32/2021/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn bán cổ phần lần đầu và quản lý, sử dụng tiền thu từ cổ phần hóa của doanh nghiệp nhà nước và Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do doanh nghiệp nhà nước đầu tư 100% vốn điều lệ chuyển đổi thành Công ty cổ phần. Trong đó, cơ quan đại diện chủ sở hữu quyết định giá bán cổ phần cho người lao động và tổ chức công đoàn tại doanh nghiệp tái cơ cấu không thấp hơn 60% mệnh giá cổ phần.

Chính sách đối với người lao động dôi dư trong doanh nghiệp tái cơ cấu thực hiện theo quy định hiện hành của Nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước khi cổ phần hóa.

Nguồn kinh phí giải quyết chính sách đối với người lao động dôi dư trong doanh nghiệp tái cơ cấu thực hiện theo nguyên tắc toàn bộ tiền thu từ cổ phần hóa theo quy định tại Khoản 1 Điều 12 Thông tư số 32/2021/TT-BTC sau khi trừ tổng mệnh giá cổ phần đã bán được sử dụng để chi trả cho người lao động dôi dư.

Việc quản lý, sử dụng tiền thu từ cổ phần hóa, tái cơ cấu của doanh nghiệp thực hiện theo quy định tại Thông tư 32/2021/TT-BTC. Trong đó: Toàn bộ tiền thu từ bán cổ phần sau khi trừ tổng mệnh giá cổ phần đã bán được dùng để giải quyết chính sách đối với người lao động dôi dư và chi phí chuyển đổi doanh nghiệp quy định. Phần còn lại (nếu có) để lại cho công ty cổ phần quản lý, sử dụng.

Sau khi được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp chuyển thành công ty cổ phần, doanh nghiệp tái cơ cấu có trách nhiệm quyết toán các khoản chi cho người lao động dôi dư và chi phí chuyển đổi, báo cáo Ban chỉ đạo cổ phần hóa, tái cơ cấu để báo cáo cơ quan đại diện chủ sở hữu phê duyệt.

Nguồn: baochinhphu.vn