Tin Video

Phóng sự: Đô thị thông minh

Thống kê truy cập

Lượt truy cập : 20.738.811

Khách Online : 50

CCHC Bộ, ngành

Một số đề xuất mới

15:24 25/11/2021 | Lượt xem : 2078

  • Xem với cỡ chữ T T
  • Inverts
  • Lượt xem : 2078
* Bộ Nội vụ đang lấy ý kiến góp ý của Nhân dân với dự thảo Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở với nhiều điểm mới được bổ sung nhằm giải quyết những hạn chế, bất cập phát sinh trong thực tiễn thi hành.
Bộ Nội vụ cho biết, qua thực tiễn triển khai trong thời gian qua và yêu cầu của tình hình, nhiệm vụ mới cho thấy các quy định về dân chủ ở cơ sở đã bộc lộ một số hạn chế, bất cập cần nghiên cứu xây dựng và ban hành Luật.
Mục tiêu xây dựng Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở nhằm hoàn thiện pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở nhằm bảo đảm quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân; tiếp tục khẳng định bản chất của Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân, Nhân dân là người chủ của đất nước.

Xây dựng cơ sở pháp lý và cơ chế để nhân dân thực hiện quyền làm chủ đã được Hiến pháp năm 2013 quy định. Đồng thời, giải quyết những hạn chế, bất cập phát sinh trong thực tiễn thi hành Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11 ngày 20/4/2007 về việc thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn, Nghị định số 04/2015/NĐ-CP về thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập; Nghị định số 145/2020/NĐ-CP về thực hiện dân chủ ở cơ sở.

Dự thảo Luật quy định cụ thể quyền và nghĩa vụ của công dân, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong thực hiện dân chủ ở cơ sở. Theo đó, ngoài các quyền được cung cấp thông tin, tham gia ý kiến, quyết định các nội dung theo quy định của Pháp lệnh, dự thảo Luật bổ sung quyền được ủy quyền thực hiện dân chủ ở cơ sở và quyền khiếu nại, khởi kiện, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở.

Đồng thời, dự thảo Luật cũng quy định các nghĩa vụ tuân thủ quy định của pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở; nghĩa vụ tham gia ý kiến vào các nội dung, vấn đề được lấy ý kiến, chịu trách nhiệm trước pháp luật về ý kiến tham gia của mình hoặc của người đại diện theo ủy quyền; chấp hành quyết định của cơ quan có thẩm quyền; kịp thời phản ánh, kiến nghị, báo cáo cơ quan có thẩm quyền khi phát hiện hành vi vi phạm pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở.

Dự thảo Luật cũng bổ sung quy định về quyền của nhân dân được đề xuất nội dung đưa ra để nhân dân bàn và quyết định.

Hiện nay, Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11 quy định về các nội dung Nhân dân bàn và quyết định nhưng không quy định về thẩm quyền đề xuất nội dung để nhân dân bàn và quyết định. Thực tế triển khai Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11 cho thấy Nhân dân chủ yếu bàn và quyết định các nội dung do Ủy ban nhân dân cấp xã chỉ đạo trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố đề xuất mà chưa có quy định về việc người dân được tự mình đề xuất sáng kiến, đưa ra để cộng đồng dân cư bàn và quyết định. Dự thảo Luật đã bổ sung quy định công dân sinh sống tại cộng đồng dân cư có sáng kiến đề xuất các công việc trong nội bộ cụm dân cư, tổ dân phố không trái với quy định của pháp luật và phù hợp với thuần phong, mỹ tục và đạo đức xã hội và có 1/3 chữ ký đồng thuận của cử tri tại cộng đồng dân cư thì gửi trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố để đưa ra cộng đồng dân cư thảo luận, quyết định. Quy định này nhằm tăng cường việc thực hiện quyền dân chủ trực tiếp của nhân dân, theo đúng tinh thần của Hiến pháp năm 2013.

Để Nhân dân thực hiện tốt hơn quyền làm chủ của mình, dự thảo Luật đã quy định theo hướng bổ sung các nội dung mà chính quyền cấp xã phải công khai rộng rãi để người dân được biết, tăng trách nhiệm giải trình và tính công khai, minh bạch trong hoạt động của chính quyền cấp xã phù hợp với quy định của Luật Tiếp cận thông tin.

Để phù hợp với tiến trình xây dựng Chính phủ điện tử, chính quyền địa phương điện tử và tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước, doanh nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, cán bộ, công chức, viên chức và người lao động được tiếp cận nhanh chóng, đầy đủ thông tin có liên quan đến quyền, lợi ích của mình, dự thảo Luật bổ sung thêm hình thức đăng tải thông tin trên Cổng thông tin điện tử, trang thông tin điện tử của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp xã; đăng tải trên cổng, trang thông tin của cơ quan, đơn vị. Đồng thời, đối với công khai thông tin tại xã, phường, thị trấn, dự thảo Luật bổ sung hình thức công khai thông tin thông qua hội nghị trao đổi, đối thoại giữa Ủy ban nhân dân cấp xã với nhân dân cho phù hợp với quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019) và các các nghị quyết của Quốc hội về tổ chức chính quyền đô thị tại TP. Hà Nội, TP. Đà Nẵng và TP. Hồ Chí Minh.

Ngoài ra, để tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp cận thông tin của các đối tượng gặp khó khăn trong việc tiếp cận như người khuyết tật, người sinh sống ở khu vực biên giới, hải đảo, dân tộc thiểu số và miền núi, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, dự thảo Luật quy định một số hình thức công khai thông tin đặc thù phù hợp với các đối tượng này nhằm bảo đảm quyền bình đẳng của công dân thực hiện dân chủ ở cơ sở.
 
* Bộ Thông tin và Truyền thông đang lấy ý kiến góp ý của Nhân dân với dự thảo Thông tư hướng dẫn về vị trí việc làm lãnh đạo, quản lý và chức danh nghề nghiệp chuyên ngành, cơ cấu viên chức theo chức danh nghề nghiệp và định mức số lượng người làm việc trong đơn vị sự nghiệp công lập thuộc ngành Thông tin và Truyền thông.

Theo dự thảo, vị trí việc làm trong đơn vị sự nghiệp công lập thuộc ngành Thông tin và Truyền thông có 4 nhóm, bao gồm: a) Vị trí việc làm lãnh đạo, quản lý; b) Vị trí việc làm nghiệp vụ chuyên ngành Thông tin và Truyền thông; c) Vị trí việc làm nghiệp vụ chuyên môn dùng chung (hành chính, tổng hợp, quản trị văn phòng, tổ chức cán bộ, kế hoạch tài chính và các vị trí việc làm không giữ chức danh nghề nghiệp chuyên ngành Thông tin và Truyền thông của đơn vị sự nghiệp công lập); d) Vị trí việc làm hỗ trợ, phục vụ.

Danh mục vị trí việc làm lãnh đạo, quản lý trong đơn vị sự nghiệp công lập thuộc ngành Thông tin và Truyền thông thực hiện theo Phụ lục I Thông tư này.

Danh mục vị trí việc làm chức danh nghề nghiệp viên chức chuyên ngành Thông tin và Truyền thông thực hiện theo Phụ lục II Thông tư này.

Tỷ lệ viên chức giữ chức danh nghề nghiệp viên chức chuyên ngành Thông tin và Truyền thông phải đảm bảo tối thiểu 65% tổng số lượng người làm việc (không bao gồm lãnh đạo, quản lý) của đơn vị sự nghiệp công lập.

Dự thảo nêu rõ, khung số lượng cấp phó của người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập thuộc ngành Thông tin và Truyền thông được thực hiện theo quy định tại Khoản 2 Điều 6 Nghị định số 120/2020/NĐ-CP của Chính phủ quy định về thành lập, tổ chức lại, giải thể đơn vị sự nghiệp công lập.

Khung số lượng cấp phó của người đứng đầu phòng hoặc tương đương thuộc đơn vị sự nghiệp công lập thuộc ngành Thông tin và Truyền thông được thực hiện theo quy định tại Khoản 3 Điều 6 Nghị định số 120/2020/NĐ-CP.
Định mức số lượng người làm việc tối thiểu trong đơn vị sự nghiệp công lập thuộc ngành Thông tin và Truyền thông là 15 người.

Định mức số lượng người làm việc tối thiểu trong các phòng, ban và các tổ chức cấu thành không phải là các đơn vị sự nghiệp thuộc đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên, tự bảo đảm một phần chi thường xuyên và đơn vị sự nghiệp công lập do ngân sách nhà nước bảo đảm chi thường xuyên thuộc ngành Thông tin và Truyền thông là 7 người.

* Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đang dự thảo Thông tư sửa đổi bổ sung một số Thông tư quy định thẩm định, chứng nhận cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm nông, lâm, thủy sản đủ điều kiện an toàn thực phẩm thuộc phạm vi quản lý của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết, trong thời gian qua có một số vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện Thông tư số 38/2018/TT-BNNPTNT, Thông tư số 48/2013/TT-BNNPTNT và Thông tư số 16/2018/TT-BNNPTNT như: Một số biên bản thẩm định, mẫu báo cáo, cách cấp mã số cho cơ sở sản xuất kinh doanh thủy sản xuất khẩu cần phải thay đổi cho phù hợp với thực tiễn sản xuất kinh doanh và yêu cầu quản lý.

Do vậy, việc xây dựng và ban hành “Thông tư sửa đổi, bổ sung một số Thông tư quy định thẩm định, chứng nhận cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm nông, lâm, thủy sản đủ điều kiện an toàn thực phẩm thuộc phạm vi quản lý của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn” là cần thiết nhằm tạo thuận lợi cho việc thẩm định, chứng nhận cơ sở sản xuất, kinh doanh đủ điều kiện an toàn thực phẩm và bảo đảm tính hợp pháp.

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cũng cho biết, mục đích của dự thảo nhằm quy định thành phần hồ sơ, thời gian xử lý hồ sơ đăng ký cấp giấy chứng nhận an toàn thực phẩm quy định tại Luật An toàn thực phẩm cũng như giải quyết được các vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện thẩm định, chứng nhận cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm nông, lâm, thủy sản đủ điều kiện an toàn thực phẩm thuộc phạm vi quản lý của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
Dự thảo Thông tư gồm 2 Điều và 7 Phụ lục, trong đó Điều 1 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 38/2018/TT-BNNPTNT; Điều 2 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 48/2013/TT-BNNPTNT và Thông tư số 16/2018/TT-BNNPTNT.

Đối với Thông tư số 38/2018/TT-BNNPTNT, dự thảo đề xuất sửa đổi, bổ sung hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm theo quy định tại Khoản 1 Điều 36 Luật An toàn thực phẩm; sửa đổi trình tự, thủ tục cấp Giấy chứng nhận an toàn thực phẩm theo quy định tại Khoản 2 Điều 36 Luật An toàn thực phẩm; sửa đổi bổ sung quy định về cấp giấy xác nhận kiến thức về an toàn thực phẩm cho chủ cơ sở và người trực tiếp sản xuất.

Đối với Thông tư số 48/2013/TT-BNNPTNT và Thông tư số 16/2018/TT-BNNPTNT, dự thảo sửa đổi bổ sung Điều 10 Thông tư số 48/2013/TT-BNNPTNT đã được sửa đổi bổ sung bởi Khoản 6 Điều 1 Thông tư số 16/2018/TT-BNNPTNT như sau “Điều 10: Hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm theo quy định tại Khoản 1 Điều 36 Luật An toàn thực phẩm”.
Bên cạnh đó, bãi bỏ Khoản 6 Điều 1, Khoản 6 Điều 2 Thông tư số 16/2018/TT-BNNPTNT.

* Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đang dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 21/2013/TT-NHNN ngày 09/9/2013 quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho biết, căn cứ Điều 30 Luật Các tổ chức tín dụng, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định cụ thể điều kiện, hồ sơ và thủ tục thành lập, chấm dứt, giải thể chi nhánh, văn phòng đại diện, đơn vị sự nghiệp ở trong nước; chi nhánh, văn phòng đại diện và các hình thức hiện diện thương mại khác ở nước ngoài đối với từng loại hình tổ chức tín dụng.

Hiện nay, việc quản lý, giám sát an toàn vi mô đối với các ngân hàng thương mại thuộc chức năng, nhiệm vụ của Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng theo quy định tại Thông tư số 08/2019/TT-NHNN ngày 4/7/2019 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 03/2015/TT-NHNN ngày 20/3/2015 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 26/2021/NĐ-CP ngày 7/4/2014 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của thanh tra, giám sát ngành ngân hàng, tuy nhiên một số quy định liên quan tại Thông tư số 21/2013/TT-NHNN chưa được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp chức năng, nhiệm vụ giữa Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chi nhánh.

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cũng cho biết, qua rà soát và thực tế hoạt động của ngân hàng thương mại đã phát sinh một số khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện Thông tư số 21/2013/TT-NHNN như chưa có quy định về thay đổi địa chỉ mà không thay đổi địa điểm đặt trụ sở chi nhánh, phòng giao dịch; một số điều khoản tại Thông tư số 21/2013/TT-NHNN chưa phù hợp với Luật Các tổ chức tín dụng, chức năng, nhiệm vụ của Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chi nhánh do thay đổi cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng. Ngoài ra, Thông tư số 21/2013/TT-NHNN chưa có quy định hỗ trợ mở chi nhánh, phòng giao dịch đối với một số trường hợp cụ thể như ngân hàng thương mại tham gia xử lý quỹ tín dụng nhân dân được kiểm soát đặc biệt và theo phương án cơ cấu lại tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt đã được phê duyệt.

Từ cơ sở pháp lý, thực tiễn nêu trên cần thiết sửa đổi, bổ sung Thông tư số 21/2013/TT-NHNN cho phù hợp với Luật Các tổ chức tín dụng, văn bản pháp luật liên quan, yêu cầu thực tiễn về quản lý Nhà nước và hoạt động của các ngân hàng thương mại.

Dự thảo Thông tư được xây dựng dựa trên định hướng sửa đổi, bổ sung các quy định về thay đổi tên chi nhánh để phù hợp với quy định tại Luật Các tổ chức tín dụng; bổ sung quy định hỗ trợ mở chi nhánh ở trong nước, phòng giao dịch đối với ngân hàng thương mại tham gia xử lý quỹ tín dụng nhân dân được kiểm soát đặc biệt nhằm khuyến khích ngân hàng thương mại tham gia xử lý quỹ tín dụng nhân dân được kiểm soát đặc biệt.

Đồng thời, bổ sung quy định đối với trường hợp mở chi nhánh, phòng giao dịch theo phương án cơ cấu lại tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt để triển khai thực hiện phương án cơ cấu lại tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt đã được phê duyệt; bổ sung quy định về thay đổi địa chỉ nhưng không thay đổi địa điểm đặt trụ sở chi nhánh ở trong nước, phòng giao dịch.

Bên cạnh đó, sửa đổi một số quy định để phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chi nhánh. Ngoài ra, dự thảo Thông tư chỉnh sửa một số từ ngữ cho phù hợp với thực tiễn và các quy định hiện hành.

* Bộ Công an đang dự thảo Thông tư quy định về giám định viên lĩnh vực kỹ thuật hình sự; tiêu chuẩn bổ nhiệm chức danh giám định viên, người giúp việc cho giám định viên lĩnh vực kỹ thuật hình sự, pháp y trong Công an nhân dân; công bố tổ chức, người giám định theo vụ việc trong Công an nhân dân.

Dự thảo quy định, giám định viên kỹ thuật hình sự bao gồm: 1. Giám định viên dấu vết đường vân; 2. Giám định viên dấu vết cơ học; 3. Giám định viên súng, đạn; 4. Giám định viên tài liệu; 5. Giám định viên cháy, nổ; 6. Giám định viên kỹ thuật; 7. Giám định viên âm thanh; 8. Giám định viên sinh học; 9. Giám định viên hóa học; 10. Giám định viên kỹ thuật số và điện tử.

Tiêu chuẩn giám định viên kỹ thuật hình sự theo Khoản 1 Điều 7 Luật Giám định tư pháp được quy định cụ thể như sau: Là sĩ quan nghiệp vụ Công an, sĩ quan Quân đội nhân dân tại ngũ, công chức thuộc Viện kiểm sát Tối cao; có sức khỏe, phẩm chất đạo đức tốt; có trình độ đại học trở lên được công nhận tại Việt Nam theo quy định của pháp luật về giáo dục và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc gia nhập và đã trực tiếp giúp việc trong hoạt động giám định ở lĩnh vực chuyên ngành được đào tạo từ đủ 3 năm trở lên (không tính thời gian tham gia học các loại hình đào tạo trong giờ hành chính) sau khi tốt nghiệp đại học thuộc chuyên ngành đề nghị bổ nhiệm giám định viên.

Thẻ giám định viên tư pháp kỹ thuật hình sự là loại giấy công vụ do Bộ Công an ban hành được in theo mẫu do Bộ Tư pháp quy định để cấp cho giám định viên tư pháp kỹ thuật hình sự trong toàn quốc.

Ngoài ra, dự thảo cũng quy định, người giúp việc giám định viên lĩnh vực kỹ thuật hình sự và pháp y trong Công an nhân dân bao gồm trợ lý, kỹ thuật viên, y công (sau đây gọi quy định chung là chức danh trợ lý giám định).

Người được bổ nhiệm chức danh trợ lý giám định phải bảo đảm các điều kiện sau: a) Nắm rõ các quy định của Luật Giám định tư pháp và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan đến hoạt động giám định. b) Tốt nghiệp đại học trở lên được công nhận tại Việt Nam theo quy định của pháp luật về giáo dục và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc gia nhập theo chuyên ngành, lĩnh vực được đề nghị bổ nhiệm trợ lý giám định. c) Có chứng chỉ đã qua đào tạo hoặc bồi dưỡng về nghiệp vụ chung về kỹ thuật hình sự và pháp y Công an nhân dân do Viện trưởng Viện Khoa học hình sự cấp.

* Bộ Công Thương đang đề nghị xây dựng Luật Phát triển công nghiệp, tập trung vào việc thúc đẩy phát triển các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trên cơ sở tạo cơ chế, môi trường hấp dẫn để đẩy mạnh thu hút đầu tư.

Bộ Công Thương cho biết, quan điểm chỉ đạo xây dựng Luật Phát triển công nghiệp (điều chỉnh các hoạt động phát triển một số ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trọng điểm theo định hướng tại Nghị quyết số 23-NQ/TW của Bộ Chính trị) sẽ tập trung vào việc thúc đẩy phát triển các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trên cơ sở tạo cơ chế, môi trường hấp dẫn để đẩy mạnh thu hút đầu tư vào công nghiệp, nâng cao năng lực doanh nghiệp công nghiệp, phát triển liên kết công nghiệp và kinh tế vùng - địa phương, đồng thời xây dựng mô hình và cơ chế quản lý công nghiệp phù hợp trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay.

Các nội dung của Luật bám sát chủ trương, đường lối của Đảng về phát triển công nghiệp, đặc biệt là Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 22/3/2018 của Bộ Chính trị về định hướng xây dựng chính sách phát triển công nghiệp quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, Nghị quyết về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 - 2025 của Quốc hội là cơ sở để Chính phủ triển khai các chiến lược, chương trình phát triển công nghiệp theo từng thời kỳ.

Theo dự thảo, phạm vi của Luật Phát triển công nghiệp là chỉ điều chỉnh các hoạt động phát triển một số ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ưu tiên, gồm: a) Công nghiệp hỗ trợ; b) Công nghiệp điện tử (trừ các thiết bị thu phát sóng và công nghệ phần mềm); c) Công nghiệp cơ khí; d) Công nghiệp chế tạo phục vụ ngành năng lượng; đ) Các ngành công nghiệp khác theo định hướng phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ.

Cụ thể, Luật sẽ quy định về các chính sách, hoạt động phát triển một số ngành công nghiệp chế biến, chế tạo nền tảng, trọng điểm tại Việt Nam.

Doanh nghiệp công nghiệp muốn phát triển về số lượng và chất lượng, nâng cao hàm lượng kỹ thuật trong sản phẩm của mình, nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm cũng như giá trị gia tăng của các sản phẩm ngành công nghiệp chính, cần có chính sách hỗ trợ nghiên cứu và phát triển, chuyển giao, ứng dụng và đổi mới công nghệ, quy trình sản xuất.

Việc vay vốn từ các tổ chức tài chính, đặc biệt là các ngân hàng thương mại, là không dễ dàng đối với các doanh nghiệp công nghiệp - đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Cần có chính sách hỗ trợ tín dụng đủ mạnh từ phía Nhà nước để các doanh nghiệp công nghiệp tiếp cận được với nguồn vốn tín dụng phục vụ sản xuất…

Do vậy, dự thảo đề xuất các chính sách nâng cao năng lực cạnh tranh công nghiệp như sau: Phát triển thị trường cho các sản phẩm công nghiệp; hỗ trợ tín dụng cho doanh nghiệp công nghiệp; phát triển nguồn nhân lực công nghiệp; hỗ trợ nghiên cứu và phát triển; hỗ trợ ứng dụng, chuyển giao và đổi mới công nghệ; hỗ trợ xúc tiến, kết nối thị trường.

Bên cạnh đó, thúc đẩy phát triển các doanh nghiệp tiềm năng và doanh nghiệp dẫn đầu, thông qua chính sách khuyến khích mua bán và sáp nhập, phát triển thị trường quốc tế. Thành lập các Quỹ tái cấu trúc doanh nghiệp công nghiệp để cải thiện hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp công nghiệp kém hiệu quả.

Ngoài ra, dự thảo Luật cũng đề xuất chính sách “Quy định về quản lý nhà nước đối với đầu tư nước ngoài trong phát triển công nghiệp”.

Dự thảo Luật quy định rõ phân cấp thẩm quyền trong quản lý đầu tư nước ngoài cũng như các chính sách ưu đãi đầu tư đặc biệt thu hút dòng vốn đầu tư chất lượng cao, trong đó kèm theo các điều kiện về công nghệ, nghiên cứu và phát triển; nâng cao tỷ lệ doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi sản xuất của dự án; nâng cao giá trị sản xuất trong nước và đẩy mạnh chuyển giao các công nghệ cao theo quy định của Thủ tướng Chính phủ… sẽ có tác động bổ sung nguồn vốn trung và dài hạn cho đầu tư phát triển công nghiệp, từ đó kéo theo việc phát triển hệ thống doanh nghiệp trong nước, các hoạt động chuyển giao công nghệ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nhằm tạo cơ hội nâng cao năng lực cho các doanh nghiệp sản xuất nội địa, tạo điều kiện để các doanh nghiệp trong nước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu và nâng cao sức cạnh tranh, giá trị gia tăng của sản phẩm hoàn chỉnh.

Giải pháp thực hiện chính sách là quy định các chính sách về quản lý đầu tư nước ngoài trong phát triển công nghiệp, cụ thể: Ưu đãi cho dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài trong công nghiệp; quản lý tỉ lệ sở hữu nước ngoài; ưu đãi đầu tư đặc biệt cho phát triển công nghiệp; đối tượng áp dụng ưu đãi đầu tư đặc biệt; nội dung ưu đãi đầu tư đặc biệt.
 
* Bộ Y tế đang dự thảo Thông tư sửa đổi Thông tư số 04/2016/TT-BYT ngày 26/2/2016 quy định khám bệnh, chữa bệnh và thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế liên quan đến khám bệnh, chữa bệnh lao và sửa đổi, bổ sung Khoản 1 Điều 9 Thông tư số 30/2020/TT-BYT ngày 31/12/2020 quy định chi tiết và hướng dẫn biện pháp thi hành một số điều của Nghị định số 146/2018/NĐ-CP ngày 17/10/2018 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn biện pháp thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm y tế.

Dự thảo Thông tư quy định khám bệnh, chữa bệnh và thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế liên quan đến khám bệnh, chữa bệnh lao, bao gồm: Khám bệnh, chữa bệnh lao; đấu thầu tập trung quốc gia thuốc chống lao sử dụng nguồn quỹ bảo hiểm y tế; quản lý, điều phối sử dụng thuốc điều trị bệnh lao do nguồn quỹ bảo hiểm y tế chi trả; thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế đối với người nghi mắc bệnh lao, người mắc bệnh lao, người mắc bệnh lao kháng thuốc, người mắc lao tiềm ẩn và người sử dụng các dịch vụ y tế liên quan đến khám bệnh, chữa bệnh lao; chuyển thực hiện dịch vụ cận lâm sàng đối với người  tham gia bảo hiểm y tế.

Trong đó, dự thảo nêu rõ nguyên tắc chung thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế liên quan đến khám bệnh, chữa bệnh lao. Người tham gia bảo hiểm y tế mắc bệnh lao, bệnh lao kháng thuốc, nghi mắc bệnh lao, lao tiềm ẩn và người sử dụng các dịch vụ y tế liên quan đến khám bệnh, chữa bệnh lao được quỹ bảo hiểm y tế thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế; được chuyển tuyến khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế theo các quy định về chuyển tuyến và theo quy định tại Thông tư này.

Cơ sở điều trị bệnh lao ký hợp đồng khám chữa bệnh bảo hiểm y tế có trách nhiệm lập kế hoạch nhu cầu sử dụng thuốc chống lao tại cơ sở và gửi đơn vị đầu mối tuyến tỉnh để tổng hợp gửi Bệnh viện Phổi trung ương.

Bệnh viện Phổi Trung ương là đơn vị đầu mối tuyến trung ương tổng hợp nhu cầu sử dụng thuốc; lập và trình phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu; tổ chức lựa chọn nhà thầu, hoàn thiện và ký kết thỏa thuận khung hoặc hợp đồng khung với các nhà thầu được lựa chọn; công bố kết quả lựa chọn nhà thầu và thỏa thuận khung hoặc hợp đồng khung trên Cổng Thông tin điện tử của Bộ Y tế để các cơ sở y tế làm căn cứ hoàn thiện, ký hợp đồng với các nhà thầu được lựa chọn.
Bên cạnh đó, dự thảo cũng nêu rõ phạm vi, quyền lợi hưởng bảo hiểm y tế.

Cụ thể, người tham gia bảo hiểm y tế bị mắc bệnh lao, lao kháng thuốc, nghi ngờ mắc lao, lao tiềm ẩn và người sử dụng các dịch vụ y tế liên quan đến khám bệnh, chữa bệnh lao khi đi khám bệnh chữa bệnh bảo hiểm y tế được hưởng quyền lợi theo phạm vi quyền lợi, mức hưởng theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế (trừ trường hợp đã được các nguồn tài chính hợp pháp khác chi trả).

Trường hợp có nguồn tài chính hợp pháp chi trả một phần thì phần còn lại sẽ do quỹ bảo hiểm y tế chi trả; khi sử dụng các dịch vụ y tế liên quan đến chẩn đoán, điều trị lao được quỹ bảo hiểm y tế chi trả các chi phí khám bệnh, chữa bệnh theo các hướng dẫn chuyên môn chẩn đoán và điều trị lao hiện hành của Bộ Y tế.

* Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng đang dự thảo Thông tư liên tịch quy định phối hợp trong việc thực hiện tổ chức phiên tòa trực tuyến.

Dự thảo Thông tư liên tịch quy định về phạm vi, nguyên tắc tổ chức; điều kiện; chuẩn bị phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm vụ án hình sự; vụ án hành chính; vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (vụ án dân sự) trực tuyến.

Phạm vi mở phiên tòa trực tuyến như sau: 1) Xét xử sơ thẩm, phúc thẩm đối với vụ án hình sự mà bị cáo bị đưa ra xét xử về tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng hoặc rất nghiêm trọng, chứng cứ rõ ràng và bị cáo đang bị tạm giam hoặc đang chấp hành án tại cơ sở giam giữ. 2) Xét xử sơ thẩm, phúc thẩm đối với các vụ án dân sự, hành chính có tính chất đơn giản, các đương sự có địa chỉ nơi cư trú, trụ sở rõ ràng.

Không mở phiên tòa trực tuyến đối với vụ án quy định trên khi thuộc một trong các trường hợp: 1) Vụ án hình sự có bị cáo, bị hại, đương sự ở nước ngoài hoặc tài sản có liên quan ở nước ngoài; vụ án dân sự, hành chính có tài sản ở nước ngoài. 2) Vụ án hình sự bị cáo bị đưa ra xét xử về một trong các tội quy định tại Chương XIII, Chương XXV, Chương XXVI của Bộ luật Hình sự. 3) Vụ án hình sự, dân sự, hành chính thuộc trường hợp có thể xét xử kín theo quy định của pháp luật tố tụng.

Việc tổ chức phiên tòa trực tuyến đối với vụ án hình sự quy định được thực hiện khi có đủ các điều kiện sau: a) Bị cáo, cơ sở giam giữ có đơn, văn bản đề nghị; b) Viện kiểm sát có thẩm quyền thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng có văn bản đồng ý xét xử trực tuyến; c) Bảo đảm đáp ứng yêu cầu về cơ sở vật chất, kỹ thuật theo quy định.

Việc tổ chức phiên tòa trực tuyến đối với vụ án dân sự, hành chính được thực hiện khi có đủ các điều kiện sau: a) Đương sự có đơn đề nghị mở phiên tòa trực tuyến; b) Viện Kiểm sát có thẩm quyền kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng có văn bản đồng ý mở phiên tòa trực tuyến (đối với trường hợp Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa theo quy định của pháp luật tố tụng); c) Bảo đảm đáp ứng yêu cầu về cơ sở vật chất, kỹ thuật theo quy định.

Dự thảo cũng quy định cụ thể về yêu cầu đối với các điểm cầu; yêu cầu về kỹ thuật, công nghệ; các bước chuẩn bị phiên tòa trực tuyến cũng như việc xử lý một số tình huống có thể xảy ra tại phiên tòa.

* Bộ Tài chính đang lấy ý kiến góp ý của nhân dân với dự thảo Thông tư hướng dẫn quản lý và sử dụng kinh phí thực hiện Đề án "Xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2021 - 2030".

Dự thảo nêu rõ các nội dung và mức chi từ ngân sách Nhà nước để thực hiện “Xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2021 - 2030” (Đề án) tại các Bộ, cơ quan Trung ương.

Theo đó, chi thi đua, khen thưởng cho tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong triển khai thực hiện Đề án theo quyết định của cấp có thẩm quyền: Nội dung và mức chi thực hiện theo quy định của pháp luật về thi đua khen thưởng.

Chi xây dựng tài liệu cho các đợt bồi dưỡng, tập huấn; tài liệu truyền thông để hỗ trợ nâng cao năng lực cho cán bộ, giáo viên và cán bộ chủ chốt của các hội về công tác xóa mù chữ, công tác quản lý, điều hành và tổ chức hoạt động tại các trung tâm học tập cộng đồng và công tác kiểm tra, đánh giá, công nhận/xếp loại các mô hình học tập: Thực hiện theo quy định tại Thông tư số 76/2018/TT-BTC hướng dẫn nội dung, mức chi xây dựng chương trình đào tạo, biên soạn giáo trình môn học đối với giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp.

Theo dự thảo, nội dung và mức chi từ ngân sách để thực hiện Đề án tại các địa phương gồm:

Chi công tác phổ biến, giáo dục pháp luật nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp, các ngành, các tổ chức, đoàn thể, các lực lượng xã hội tại địa phương về mục đích, ý nghĩa, vai trò và ích lợi của học tập suốt đời, xây dựng xã hội học tập; chi tổ chức Tuần lễ hưởng ứng học tập suốt đời hàng năm: Thực hiện theo quy định tại Thông tư liên tịch số 14/2014/TTLT-BTC-BTP.

Chi điều tra, khảo sát phục vụ công tác xóa mù chữ và phổ cập giáo dục trong độ tuổi 15 - 60: Thực hiện theo quy định tại Thông tư số 109/2016/TT-BTC.

Đối với các học viên các lớp học xóa mù chữ được Nhà nước hỗ trợ học phẩm: Tùy thuộc tình hình thực tế tại địa phương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt danh mục tên học phẩm, số lượng học phẩm hỗ trợ trong phạm vi danh mục hỗ trợ học phẩm đối với cấp trung học cơ sở quy định tại Thông tư liên tịch số 109/2009/TTLT-BTC-BGDĐT hướng dẫn một số chế độ tài chính đối với học sinh các trường phổ thông dân tộc nội trú và các trường dự bị đại học dân tộc.

Ngân sách Nhà nước hỗ trợ kinh phí chi thắp sáng ban đêm, chi mua sổ sách theo dõi quá trình học tập, sách giáo khoa dùng chung (đối với các lớp học phổ cập, xóa mù chữ ban đêm) và chi tuyên truyền, huy động người mù chữ, tái mù chữ đến lớp xóa mù chữ: Mức chi cụ thể do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định căn cứ khả năng cân đối của ngân sách địa phương, quy mô và thời gian hoạt động của các lớp xóa mù chữ.

Chi tiền công đối với giáo viên thuộc biên chế dạy lớp xóa mù chữ, chống tái mù chữ: Mức chi tiền công tính theo số giờ thực dạy. Trường hợp số giờ dạy vượt định mức giờ chuẩn được thanh toán theo quy định tại Thông tư liên tịch số 07/2013/TTLT-BGDĐT-BNV-BTC hướng dẫn thực hiện chế độ trả lương dạy thêm giờ đối với nhà giáo trong các cơ sở giáo dục công lập.

Chi tiền công đối với những người ngoài biên chế, nếu có đủ tiêu chuẩn và năng lực giảng dạy, tình nguyện tham gia giảng dạy các lớp xóa mù chữ: Ngân sách Nhà nước thực hiện hỗ trợ trả tiền công cho các đối tượng này theo hợp đồng thỏa thuận. Mức tiền công tối đa theo hợp đồng tương đương với mức lương giáo viên trong biên chế có cùng trình độ đào tạo, thâm niên công tác dạy cùng cấp học, lớp học theo quy định hiện hành về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang.

Nguồn: baochinhphu.vn