Tin Video

Phóng sự: Đô thị thông minh

Thống kê truy cập

Lượt truy cập : 34.857.781

Khách Online : 230

CCHC Bộ, ngành

THỰC HIỆN CƠ CHẾ TỰ CHỦ CỦA TỔ CHỨC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CÔNG LẬP VÀ PHÁT TRIỂN CÁC DOANH NGHIỆP KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ GIAI ĐOẠN 2011 - 2020

11:56 10/05/2021 | Lượt xem : 2243

  • Xem với cỡ chữ T T
  • Inverts
  • Lượt xem : 2243
Tiếp tục đẩy mạnh triển khai thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 - 2020 theo Nghị quyết số 30c/NQ-CP của Chính phủ, đảm bảo hoàn thành các mục tiêu, nhiệm vụ cải cách hành chính nhà nước trong giai đoạn II (2016 - 2020), một trong các trọng tâm cải cách hành chính giai đoạn 2016 - 2020 là cải cách thể chế, được triển khai thực hiện bằng hệ thống các nhiệm vụ, trong đó nhiệm vụ quan trọng là “Tiếp tục cải cách và triển khai trên diện rộng cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các đơn vị sự nghiệp dịch vụ công…”. Trong lĩnh vực khoa học và công nghệ, Ban Chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ giao Bộ Khoa học và Công nghệ chuẩn bị báo cáo chuyên đề “Thực hiện cơ chế tự chủ của tổ chức khoa học và công nghệ công lập và phát triển các doanh nghiệp khoa học và công nghệ”.
1. Kết quả thực hiện cơ chế tự chủ của tổ chức khoa học và công nghệ công lập
a) Về đổi mới cơ chế tự chủ của tổ chức khoa học và công nghệ công lập theo Nghị định số 54/2016/NĐ-CP
Thứ nhất, cơ chế tự chủ của tổ chức khoa học và công nghệ công lập bảo đảm phù hợp với quy định khung tại Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập, đồng thời bảo đảm tính đặc thù của tổ chức khoa học và công nghệ công lập.
Thứ hai, về việc xác định và phân loại tổ chức khoa học và công nghệ công lập để giao quyền tự chủ
Để khắc phục khó khăn trong việc xác định và phân loại tổ chức khoa học và công nghệ công lập theo chức năng của tổ chức để giao quyền tự chủ theo Nghị định số 115/2005/NĐ-CP ngày 05/9/2005 của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức khoa học và công nghệ công lập, Nghị định số 54/2016/NĐ-CP đã phân loại tổ chức khoa học và công nghệ công lập theo mức độ tự bảo đảm về chi thường xuyên và chi đầu tư của tổ chức khoa học và công nghệ công lập, cụ thể theo các mức sau: Tổ chức khoa học và công nghệ công lập tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư; Tổ chức khoa học và công nghệ công lập tự bảo đảm chi thường xuyên; Tổ chức khoa học và công nghệ công lập tự bảo đảm một phần chi thường xuyên; Tổ chức khoa học và công nghệ công lập do Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên.
Với cách phân loại này, các tổ chức khoa học và công nghệ công lập sẽ căn cứ vào nguồn thu của đơn vị để tự xác định tổ chức mình thuộc loại nào để trình cơ quan có thẩm quyền thẩm định và phê duyệt phương án tự chủ của tổ chức.
Cách làm này đồng thời tránh được tình trạng bắt buộc các tổ chức khoa học và công nghệ công lập có chức năng nghiên cứu ứng dụng, dịch vụ khoa học và công nghệ phải tự bảo đảm chi thường xuyên tại một thời điểm nhất định như quy định tại Nghị định số 115/2005/NĐ-CP. Quy định có tính ép buộc các tổ chức khoa học và công nghệ công lập phải tự bảo đảm chi thường xuyên vào một thời điểm nhất định tại Nghị định số 115/2005/NĐ-CP là không phù hợp với thực tiễn và gây khó khăn đối với các tổ chức khoa học và công nghệ công lập.
Thứ ba, trao quyền tự chủ phụ thuộc vào mức độ tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư của tổ chức khoa học và công nghệ công lập
Mức độ tự bảo đảm về chi thường xuyên và chi đầu tư của tổ chức khoa học và công nghệ công lập là căn cứ để trao về quyền tự chủ cho tổ chức (về nhân lực, tài chính, tổ chức bộ máy, quản lý, sử dụng tài sản), cụ thể theo hướng Nhà nước giao quyền tự chủ cao nhất cho tổ chức tự bảo đảm được toàn bộ chi thường xuyên và chi đầu tư, tổ chức khoa học và công nghệ công lập do Nhà nước bảo đảm toàn bộ chi thường xuyên thì Nhà nước giao ít quyền tự chủ nhất. Quy định như thế sẽ tạo được sự bình đẳng giữa các tổ chức khoa học và công nghệ công lập.
Mặt khác, quy định này sẽ khuyến khích các tổ chức khoa học và công nghệ công lập phấn đấu thu hút nhiều nguồn tài chính (ngoài ngân sách nhà nước) để phục vụ hoạt động khoa học và công nghệ và hoạt động sản xuất, kinh doanh; khuyến khích tổ chức tiết kiệm chi phí, tăng thu nhập, nâng cao hiệu quả hoạt động, tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư để được trao nhiều quyền tự chủ nhất.
Thứ tư, cho phép tổ chức khoa học và công nghệ công lập tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư được vận dụng cơ chế tài chính như doanh nghiệp hoặc chuyển thành doanh nghiệp
Tổ chức khoa học và công nghệ công lập tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư là những tổ chức đã tự bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động, có lợi nhuận lớn, có thể tự đầu tư phát triển mà không sử dụng nguồn vốn từ ngân sách nhà nước. Vì vậy, việc cho phép tổ chức khoa học và công nghệ công lập tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư được vận dụng cơ chế tài chính như doanh nghiệp hoặc chuyển thành doanh nghiệp là phù hợp với thực tiễn. 
Ngoài việc được Nhà nước trao quyền tự chủ ở mức cao nhất, tổ chức khoa học và công nghệ công lập tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư được hưởng ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp. Điều đó cũng tạo được động lực khuyến khích các tổ chức khoa học và công nghệ phấn đấu để trở thành tổ chức tự bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động.
Thứ năm, Nhà nước tiếp tục đầu tư phát triển để nâng cao tiềm lực cho tổ chức khoa học và công nghệ công lập
Tổ chức khoa học và công nghệ công lập do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước thành lập để thực hiện chức năng, nhiệm vụ mà Nhà nước giao, vì vậy khi thực hiện cơ chế tự chủ, các tổ chức khoa học và công nghệ công lập cần được nhà nước tiếp tục đầu tư phát triển như trước đây, trừ một số tổ chức khoa học và công nghệ công lập đã tự bảo đảm chi đầu tư.
Bên cạnh việc thực hiện những nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước, các tổ chức khoa học và công nghệ công lập được Nhà nước giao thực hiện những nhiệm vụ thường xuyên theo chức năng và các nhiệm vụ khác để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của tổ chức.
Điều này sẽ giúp các tổ chức có tiềm lực đủ mạnh và có nguồn kinh phí ổn định để thực hiện tốt chức năng nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ.
Thứ sáu, điều chỉnh một số quy định để cơ chế tự chủ đồng bộ với các quy định khác có liên quan, điều chỉnh quy định về việc cho phép tổ chức khoa học và công nghệ công lập được dùng quyền sử dụng đất để góp vốn, liên doanh, liên kết, sản xuất kinh doanh, thế chấp vay vốn ngân hàng phù hợp với quy định của Luật Đất đai.
Quy định về xác định danh mục vị trí việc làm, cơ cấu ngạch viên chức theo hạng chức danh nghề nghiệp, xác định số lượng người làm việc trong tổ chức khoa học và công nghệ công lập, tuyển dụng, quản lý, sử dụng viên chức phù hợp với quy định của luật Viên chức và các văn bản có liên quan.
Quy định về việc cho phép tổ chức khoa học và công nghệ công lập đề xuất cơ quan có thẩm quyền bổ nhiệm, thuê nhà khoa học là người Việt Nam ở nước ngoài đảm nhiệm chức danh lãnh đạo tổ chức khoa học và công nghệ công lập và thuê chuyên gia nước ngoài tham gia hoạt động khoa học và công nghệ tại Việt Nam đảm nhiệm chức danh lãnh đạo tổ chức khoa học và công nghệ công lập phù hợp với Luật Khoa học và công nghệ năm 2013.
Quy định cho phép tổ chức khoa học và công nghệ công lập được quyền thành lập, sáp nhập, giải thể các đơn vị trực thuộc phù hợp với quy định hiện hành về thành lập, tổ chức lại, giải thể đơn vị sự nghiệp công lập.
b) Kết quả phê duyệt phương án và thực hiện cơ chế tự chủ theo quy định của Nghị định số 54/2016/NĐ-CP
Trong giai đoạn những năm đầu triển khai thực hiện Nghị định số 54/2016/NĐ-CP, do các nguyên nhân khách quan và chủ quan, các Bộ, ngành, địa phương chú trọng, tập trung thực hiện việc sắp xếp, sáp nhập các tổ chức khoa học và công nghệ công lập, vì vậy, tiến độ hoàn thành việc xây dựng và phê duyệt phương án tự chủ của các tổ chức khoa học và công nghệ công lập bị chậm lại. Vì vậy, năm 2019, các tổ chức khoa học và công nghệ công lập chưa thể thực hiện cơ chế tự chủ theo quy định tại Nghị định số 54/2016/NĐ-CP.
Để giải quyết vấn đề nêu trên, ngày 11/01/2018, Bộ Khoa học và Công nghệ đã có Công văn số 83/BKHCN-TCCB đề xuất Chính phủ cho phép các tổ chức khoa học và công nghệ công lập tiếp tục thực hiện cơ chế tự chủ theo quy định tại Nghị định số 115/2005/NĐ-CP và Nghị định số 96/2010/NĐ-CP đến hết 31/12/2018, từ năm 2019 các tổ chức khoa học và công nghệ công lập sẽ thực hiện cơ chế tự chủ theo quy định tại Nghị định số 54/2016/NĐ-CP.
Ngày 08/02/2018, tại Nghị quyết số 13/NQ-CP, phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 01 năm 2018, Chính phủ đã cho phép các tổ chức khoa học và công nghệ công lập chưa được phê duyệt phương án tự chủ tiếp tục thực hiện cơ chế quy định tại Nghị định số 115/2005/NĐ-CP ngày 05/9/2005 của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức khoa học và công nghệ công lập và Nghị định số 96/2010/NĐ-CP ngày 20/9/2010 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 115/2005/NĐ-CP ngày 05/9/2005 của Chính phủ đến hết ngày 31/12/2018.
Thực hiện Nghị quyết số 13/NQ-CP, phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 01 năm 2018, Bộ Khoa học và Công nghệ đã có Công văn số 639/BKHCN-TCCB hướng dẫn và đôn đốc các Bộ, ngành, địa phương khẩn trương phê duyệt phương án tự chủ của các tổ chức khoa học và công nghệ công lập xong trước 30/6/2018 để bảo đảm thời gian xây dựng kế hoạch khoa học và công nghệ và triển khai thực hiện cơ chế tự chủ theo Nghị định số 54/2016/NĐ-CP từ ngày 01/01/2019.
Đến 31/01/2019, theo báo cáo của các Bộ, ngành, địa phương, do triển khai kiện toàn tổ chức các đơn vị sự nghiệp công lập theo Nghị quyết số 19/NQ-TW ngày 25/10/2017 về tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả  hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập và các nguyên nhân chủ quan, khách quan, khoảng 64% các tổ chức khoa học và công nghệ công lập đã được phê duyệt phương án tự chủ. Cụ thể như sau:
Đối với 314 tổ chức khoa học và công nghệ công lập thuộc phạm vi quản lý của các Bộ, ngành: Có 175 tổ chức khoa học và công nghệ đã được phân loại và phê duyệt phương án tự chủ, trong đó: 03 tổ chức tự bảo đảm toàn bộ chi thường xuyên và chi đầu tư; 18 tổ chức tự bảo đảm toàn bộ chi thường xuyên; 103 tổ chức bảo đảm một phần chi thường xuyên; 51 tổ chức do Nhà nước bảo đảm toàn bộ chi thường xuyên. Đến thời điểm 31/01/2019, còn 139 tổ chức thuộc cơ quan Trung ương chưa được phê duyệt Phương án tự chủ, đặc biệt trong đó có 99 tổ chức cấp 3, cấp 4 trực thuộc đơn vị cấp 2.
Đối với 146 tổ chức khoa học và công nghệ công lập thuộc phạm vi quản lý của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, có 121 tổ chức đã được phê duyệt phương án tự chủ, trong đó: 02 tổ chức tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư; 30 tổ chức tự bảo đảm chi thường xuyên; 66 tổ chức tự bảo đảm một phần chi thường xuyên; 23 tổ chức do Nhà nước bảo đảm toàn bộ chi thường xuyên. Đến thời điểm 31/01/2019, còn 25 tổ chức khoa học và công nghệ thuộc các cơ quan ở địa phương chưa được phê duyệt Phương án tự chủ.
Như vậy, trong cả nước có 460 tổ chức khoa học và công nghệ công lập thuộc đối tượng thực hiện Nghị định số 54/2016/NĐ-CP, trong đó có 296 tổ chức đã được phân loại và phê duyệt phương án tự chủ, cụ thể: 05 tổ chức tự bảo đảm toàn bộ chi thường xuyên và chi đầu tư; 48 tổ chức tự bảo đảm toàn bộ chi thường xuyên; 169 tổ chức bảo đảm một phần chi thường xuyên; 74 tổ chức do Nhà nước bảo đảm toàn bộ chi thường xuyên. Đến thời điểm 31/01/2019, còn 164 tổ chức khoa học và công nghệ chưa được phê duyệt Phương án tự chủ.
c) Tình hình thực hiện các quyền tự chủ
Tự chủ về thực hiện nhiệm vụ: Có 53 tổ chức đã tự bảo đảm chi thường xuyên, chi đầu tư và tự bảo đảm chi thường xuyên và được trao quyền tự chủ về thực hiện nhiệm vụ. Các tổ chức này được quyền tự chủ xây dựng kế hoạch thực hiện nhiệm vụ, báo cáo cơ quan quản lý cấp trên để theo dõi việc thực hiện. Có 243 tổ chức chưa được trao quyền tự chủ về thực hiện nhiệm vụ và thuộc diện phải xây dựng kế hoạch thực hiện nhiệm vụ, báo cáo cơ quan có thẩm quyền phê duyệt và quyết định phương thức giao kế hoạch cho đơn vị thực hiện.
Tự chủ về quản lý nhân lực: Có 53 tổ chức đã được trao quyền tự chủ về quản lý nhân lực, được quyết định vị trí việc làm, cơ cấu viên chức theo chức danh nghề nghiệp và số lượng người làm việc phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao. Có 243 tổ chức chưa được giao quyền tự chủ về quản lý nhân lực, phải xây dựng vị trí việc làm và cơ cấu viên chức theo chức danh nghề nghiệp trình cấp có thẩm quyền phê duyệt; đề xuất số lượng người làm việc của đơn vị để trình cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định.
Tự chủ về quản lý tổ chức bộ máy: Có 53 tổ chức đã được trao quyền tự chủ về quản lý tổ chức bộ máy, được quyết định thành lập, tổ chức lại, giải thể các đơn vị mới ngoài các đơn vị cấu thành theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền khi đáp ứng các điều kiện theo quy định hiện hành. Có 243 tổ chức chưa được giao quyền tự chủ về tổ chức bộ máy, không được quyết định thành lập, tổ chức lại, giải thể các đơn vị.
Tự chủ về tài chính: 05 tổ chức tự bảo đảm toàn bộ chi thường xuyên và chi đầu tư, được tự chủ cao nhất về tài chính (không giới hạn mức trích Quỹ thu nhập tăng thêm). 48 tổ chức tự bảo đảm toàn bộ chi thường xuyên, trích quỹ thu nhập tối đa 3 lần Quỹ tiền lương ngạch bậc. 169 tổ chức bảo đảm một phần chi thường xuyên, trích quỹ thu nhập tối đa 2,5 lần Quỹ tiền lương ngạch bậc và 74 tổ chức do Nhà nước bảo đảm toàn bộ chi thường xuyên, trích quỹ thu nhập tối đa 1 lần Quỹ tiền lương ngạch bậc.
2. Tồn tại, hạn chế trong quá trình triển khai Nghị định số 54/2016/NĐ-CP
Nghị định số 54/2016/NĐ-CP đã có nhiều quy định mới, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức khoa học và công nghệ công lập thực hiện hiện cơ chế tự chủ. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện Nghị định số 54/2016/NĐ-CP có một số tồn tại, hạn chế, cụ thể:
Thứ nhất, một số quy định chưa bao quát hết đặc thù của hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ
Đơn vị sự nghiệp công lập là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước. Hiện nay, nội hàm của “dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước” chưa được định nghĩa bằng văn bản quy phạm pháp luật, và đang còn có nhiều ý kiến khác nhau. Tuy nhiên, “dịch vụ công” được quy định là chức năng quản lý nhà nước của các bộ, cơ quan ngang bộ, đi cùng với chức năng quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực.
Trong lĩnh vực khoa học và công nghệ, các đơn vị sự nghiệp công lập được thành lập có chức năng chủ yếu là nghiên cứu khoa học, nghiên cứu triển khai và phát triển công nghệ, hoạt động dịch vụ khoa học và công nghệ, được thành lập và đăng ký hoạt động theo quy định của pháp luật; có tên là tổ chức khoa học và công nghệ công lập. Danh mục dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Khoa học và Công nghệ được Thủ tướng Chính phủ ban hành tại Quyết định số 2099/QĐ-TTg ngày 27/12/2017, bao gồm 31 dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước như sau: Hoạt động khoa học và công nghệ (7 dịch vụ); phát triển tiềm lực khoa học và công nghệ (6 dịch vụ); lĩnh vực sở hữu trí tuệ (2 dịch vụ); lĩnh vực tiêu chuẩn đo lường chất lượng (9 dịch vụ); lĩnh vực năng lượng nguyên tử, an toàn bức xạ và hạt nhân (3 dịch vụ); đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, kiến thức, nghiệp vụ trong lĩnh vực khoa học và công nghệ (4 dịch vụ). Như vậy, tổ chức khoa học và công nghệ công lập là đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực khoa học và công nghệ, có đặc thù về chức năng hoạt động khoa học và công nghệ, trong đó hoạt động nghiên cứu khoa học và hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ không phải là dịch vụ công.
Đặc điểm cơ bản của Nghị định số 16/2015/NĐ-CP và Nghị định số 54/2016/NĐ-CP là lấy tự chủ về tài chính để quyết định các mức tự chủ còn lại (nhiệm vụ, nhân sự, bộ máy), lấy việc xã hội hóa dần chi phí các dịch vụ sự nghiệp công làm lộ trình tăng mức tự chủ. Hai đặc điểm này của Nghị định số 16/2015/NĐ-CP và Nghị định số 54/2016/NĐ-CP qua thực tiễn không phù hợp với tính chất đặc thù của hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ như phân tích ở phần trên. 
Thứ hai, còn bất cập về việc trích lập các quỹ đối với tổ chức khoa học và công nghệ chưa tự bảo đảm chi thường xuyên
Tại Nghị định số 16/2015/NĐ-CP và Nghị định số 54/NĐ-CP có quy định: hằng năm, sau khi trang trải các khoản chi phí, nộp thuế và các khoản nộp ngân sách nhà nước khác, nếu có phần kinh phí tiết kiệm chi thường xuyên, tổ chức khoa học và công nghệ công lập tự bảo đảm một phần chi thường xuyên và tổ chức do Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên được trích lập Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp, Quỹ bổ sung thu nhập, Quỹ khen thưởng và Quỹ phúc lợi,… Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động, sau khi trang trải các khoản chi phí, nộp thuế và các khoản nộp ngân sách nhà nước, Thông tư  số 90/2017/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn các tổ chức này phải sử dụng phần kinh phí tiết kiệm chi thường xuyên của năm trước để bù vào phần chi thường xuyên của năm sau, vì thế các tổ chức không còn nguồn để trích Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp, Quỹ bổ sung thu nhập, Quỹ khen thưởng và Quỹ phúc lợi,…
Thứ ba, giới hạn trần chi thu nhập tăng thêm đối với tổ chức đã tự bảo đảm chi thường xuyên
Tổ chức khoa học và công nghệ công lập tự bảo đảm chi thường xuyên, hằng năm không sử dụng ngân sách nhà nước để chi tiền lương nhưng lại bị hạn chế: Mức lương cho công chức, viên chức, người lao động của tổ chức chi theo quy định của pháp luật về ngạch, bậc, hạng chức danh nghề nghiệp, chức vụ và các khoản phụ cấp theo quy định; Trích lập quỹ thu nhập tăng thêm bị hạn chế không quá 3 lần quỹ tiền lương ngạch, bậc; Quỹ thu nhập tăng thêm được trích nộp hằng năm, sau khi hạch toán đầy đủ các khoản chi phí, nộp thuế và các khoản nộp ngân sách nhà nước khác (nếu có) theo quy định, phần chênh lệch thu lớn hơn chi thường xuyên (nếu có).
Vì thế, mức lương chi cho công chức, viên chức, người lao động của tổ chức khó thu hút, giữa chân đội ngũ nhân lực chất lượng cao, có nghĩa các tổ chức đã không được giao quyền tự chủ tương xứng với khả năng tự bảo đảm về tài chính.
Thứ tư, về việc vận dụng cơ chế tài chính như doanh nghiệp, Nghị định số 16/2015/NĐ-CP và Nghị định số 54/2016/NĐ-CP có quy định tổ chức được vận dụng cơ chế tài chính như doanh nghiệp, tuy nhiên, Bộ Tài chính chưa có hướng dẫn chi tiết, vì vậy nhiều tổ chức đủ điều kiện nhưng chưa thể vận dụng cơ chế tài chính như doanh nghiệp.
Thứ năm, về việc ký hợp đồng lao động làm công tác chuyên môn, theo quy định tại Nghị định số 161/2018/NĐ-CP ngày 29/11/2018 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số quy định về tuyển dụng công chức, viên chức, nâng ngạch công chức, thăng hạng viên chức và thực hiện chế độ hợp đồng một số loại công việc trong cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, các đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi thường xuyên và đơn vị sự nghiệp do ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ chi thường xuyên không được ký hợp đồng làm công tác chuyên môn gây khó khăn cho các đơn vị, cụ thể: Nếu tuyển dụng đúng số viên chức được giao, khi có biến động về nguồn tài chính sẽ khó khăn trong việc xử lý đội ngũ viên chức đã được tuyển dụng; khối lượng công việc nhiều, biên chế ngày càng bị cắt giảm, tổ chức có nguồn thu sự nghiệp, có thể tự chi trả tiền lương cho lao động hợp đồng để thực hiện nhiệm vụ nhưng không được phép thực hiện.
Thứ sáu, về việc chuyển tổ chức khoa học và công nghệ công lập thành công ty cổ phần, một số tổ chức khoa học và công nghệ công lập chưa đủ điều kiện để chuyển thành công ty cổ phần theo quy định tại Quyết định số 31/2017/QĐ-TTg ngày 17/7/2017 của Thủ tướng Chính phủ về tiêu chí, danh mục ngành, lĩnh vực thực hiện chuyển đơn vị sự nghiệp công lập thành công ty cổ phần (Tự bảo đảm được toàn bộ kinh phí hoạt động thường xuyên trong năm gần nhất với thời điểm thực hiện chuyển đổi hoặc có khả năng tự bảo đảm được toàn bộ kinh phí hoạt động thường xuyên sau khi chuyển đổi) nhưng bị đưa vào danh mục các đơn vị chuyển thành công ty cổ phần. 
Thứ bảy, tiềm lực khoa học và công nghệ của các tổ chức khoa học và công nghệ công lập còn nhiều hạn chế, trình độ nhân lực còn thiếu về số lượng, chưa đáp ứng yêu cầu về chuyên môn; cơ sở vật chất, máy móc, thiết bị chưa được đầu tư kịp thời làm ảnh hưởng đến năng lực nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ của nhiều tổ chức khoa học và công nghệ. Hầu hết, các tổ chức khoa học và công nghệ công lập đang trong quá trình hoàn thiện về bộ máy tổ chức. Biên chế giao cho các tổ chức khoa học và công nghệ công lập còn hạn chế, thiếu nhân lực để triển khai các hoạt động. 
Đội ngũ nhân lực nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ còn ít về số lượng, hạn chế về năng lực; chưa thể hiện được vai trò đầu mối trong việc tư vấn và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật cũng như hỗ trợ cho các công ty, doanh nghiệp trong công việc nghiên cứu cải tiến và ứng dụng công nghệ mới.
Thứ tám, khó khăn trong việc thu hút nhân lực, nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước đầu tư cho hoạt động khoa học và công nghệ của nhiều tổ chức khoa học và công nghệ công lập còn hạn hẹp, các tổ chức chưa thu hút được nhiều nguồn tài chính ngoài ngân sách nhà nước làm cho các tổ chức không có nguồn tài chính để thực hiện chính sách thu hút, giữ chân đội ngũ nhân lực chất lượng cao làm việc lâu dài tại tổ chức. 
Cơ chế tuyển dụng viên chức theo quy định hiện tại không phù hợp với mô hình nghiên cứu (vì các nghiên cứu viên cần có thời gian ít nhất là 1 năm để xác định năng lực nghiên cứu trước khi tuyển dụng chính thức).
Thứ chín, một số vướng mắc trong việc quản lý, sử dụng tài sản, tại Nghị định số 54/2016/NĐ-CP cho phép tổ chức khoa học và công nghệ công lập được sản xuất, kinh doanh, liên doanh, liên kết, tuy nhiên, các tổ chức gặp khó khăn trong quá trình triển khai vì bị vướng với các quy định tại Luật Quản lý, sử dụng tài sản công.
3. Nguyên nhân của tồn tại, hạn chế
Các văn bản quy định cơ chế tự chủ của các tổ chức khoa học và công nghệ công lập theo Nghị định số 54/2016/NĐ-CP với tinh thần đổi mới và giao quyền tự chủ mạnh mẽ cho tổ chức khoa học và công nghệ công lập, một số tổ chức khoa học và công nghệ đã chuyển sang cơ chế tự chủ hoàn toàn, khẳng định được vị thế, thương hiệu của mình trên thị trường, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho cán bộ khoa học. Tuy nhiên, cũng còn không ít tổ chức khoa học và công nghệ công lập chưa thành công do các nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau. Nghiên cứu hệ thống văn bản quy định cơ chế tự chủ của các tổ chức khoa học và công nghệ công lập theo Nghị định số 54/2016/NĐ-CP, về cơ bản thấy rằng Nghị định số 54/2016/NĐ-CP được ban hành trên cơ sở Nghị định khung số 16/2015/NĐ-CP chưa phù hợp với các đặc thù của tổ chức khoa học và công nghệ công lập. Cụ thể như sau:
Thứ nhất, về chức năng, nhiệm vụ của tổ chức khoa học và công nghệ công lập, đơn vị sự nghiệp công lập là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước. Hiện nay, nội hàm của “dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước” chưa được định nghĩa bằng văn bản quy phạm pháp luật, và đang còn có nhiều ý kiến khác nhau. Tuy nhiên, “dịch vụ công” được quy định là chức năng quản lý nhà nước của các Bộ, cơ quan ngang bộ, đi cùng với chức năng quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực.
Trong lĩnh vực khoa học và công nghệ, các đơn vị sự nghiệp công lập được thành lập có chức năng chủ yếu là nghiên cứu khoa học, nghiên cứu triển khai và phát triển công nghệ, hoạt động dịch vụ khoa học và công nghệ, được thành lập và đăng ký hoạt động theo quy định của pháp luật; có tên là tổ chức khoa học và công nghệ công lập. Danh mục dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Khoa học và Công nghệ được Thủ tướng Chính phủ ban hành tại Quyết định số 2099/QĐ-TTg ngày 27/12/2017, bao gồm 31 dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước như sau: hoạt động khoa học và công nghệ (7 dịch vụ); phát triển tiềm lực khoa học và công nghệ (6 dịch vụ); lĩnh vực sở hữu trí tuệ (2 dịch vụ); lĩnh vực tiêu chuẩn đo lường chất lượng (9 dịch vụ); lĩnh vực năng lượng nguyên tử, an toàn bức xạ và hạt nhân (3 dịch vụ); đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, kiến thức, nghiệp vụ trong lĩnh vực khoa học và công nghệ (4 dịch vụ).
Như vậy, tổ chức khoa học và công nghệ công lập là đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực khoa học và công nghệ, có đặc thù không những về chức năng hoạt động khoa học và công nghệ, mà còn có những đặc thù về đầu tư và người sử dụng kết quả hoạt động khoa học và công nghệ, về mô hình tổ chức, về nhân lực. Cụ thể là:
Thứ hai, hoạt động khoa học và công nghệ có tính quy luật đặc thù. Đặc điểm nổi bật của nghiên cứu khoa học, nghiên cứu triển khai và phát triển công nghệ là quá trình mà tri thức vận động từ không đến có, từ ít đến nhiều, là một loại lao động trí óc mang tính sáng tạo, là điểm cơ bản nhất phân biệt với các loại hình lao động sản xuất mang tính lặp đi lặp lại. Cũng chính vì mang tính sáng tạo, tìm kiếm cái chưa biết, có thể thành công mà cũng có thể thất bại nên hoạt động khoa học và công nghệ có tính rủi ro, khả năng thất bại lớn. Vì vậy, không thể định trước kết quả của hoạt động khoa học và công nghệ, cũng như khó mà định rõ được đầu tư bao nhiêu là đủ để có thể dẫn đến kết quả mong muốn, đây là tính không chắc chắn hay tính mạo hiểm của hoạt động khoa học và công nghệ. Hoạt động khoa học và công nghệ được thực hiện trên cơ sở kế thừa những sáng tạo của người đi trước và những tri thức sáng tạo ra cũng sẽ được người đi sau kế thừa; đồng thời trên cơ sở trải qua một thời gian dài tích lũy lượng lớn thông tin có liên quan đến phương pháp nghiên cứu và hướng tư duy. Mặt khác, kết quả của hoạt động nghiên cứu khoa học, nghiên cứu triển khai và phát triển công nghệ có tính trễ do chưa thể có ngay sau khi đầu tư cho hướng nghiên cứu mà phải chờ một thời gian nhất định mới được ứng dụng trong đời sống, sản xuất. Kết quả của hoạt động khoa học và công nghệ có tính đa lợi ích, vừa có ý nghĩa kinh tế, ý nghĩa xã hội, ý nghĩa nhân văn và có giá trị về phát triển khoa học.
Vì tính không chắc chắn, tính đa lợi ích, tính trễ, tính rủi ro, v.v… của hoạt động khoa học và công nghệ, nên quản lý nhà nước trong lĩnh vực khoa học và công nghệ nói chung và cơ chế tài chính, đầu tư cho hoạt động khoa học và công nghệ nói riêng cần được cân nhắc, không thể đồng nhất như đối với các hoạt động sự nghiệp khác, không thể áp dụng cơ chế quản lý tài chính thông thường, không thể đòi hỏi có ngay kết quả và hiệu quả cụ thể khi đầu tư cho hoạt động khoa học và công nghệ, mức đầu tư cho nghiên cứu khoa học, nghiên cứu triển khai và phát triển công nghệ cần phải “vượt ngưỡng” mới tạo đủ khả năng phát huy hiệu quả của đầu tư, và phải coi đầu tư cho khoa học và công nghệ là đầu tư cho tiềm lực để phát triển nhanh và bền vững.
Thứ ba, đầu tư hoặc đặt hàng cho hoạt động khoa học và công nghệ chủ yếu là từ Nhà nước với ngân sách có hạn như hiện nay, gần đây đã có sự gia tăng mạnh mẽ từ khu vực doanh nghiệp, đặc biệt là các tập đoàn doanh nghiệp công nghệ lớn. Đặc thù hơn nữa, các nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, nghiên cứu phục vụ quản lý nhà nước, nghiên cứu ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ có tính thử nghiệm để đưa ra mô hình sản xuất tại các địa phương, các dịch vụ kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm, v.v… đòi hỏi phải đầu tư cơ sở vật chất, nhân lực kỹ thuật trình độ tương đối cao, không đem lại nhiều lợi nhuận thì chỉ có Nhà nước đầu tư, tư nhân không thực hiện. Các kết quả của hoạt động khoa học và công nghệ, vì vậy, do Nhà nước hoặc doanh nghiệp có quyền sở hữu.
Thứ tư, mô hình tổ chức hoạt động khoa học và công nghệ linh hoạt, mở và động, cơ chế hoạt động vừa độc lập, vừa có sự phối hợp, liên kết giữa các nhóm nghiên cứu. Đặc trưng về tổ chức bộ máy của tổ chức khoa học và công nghệ công lập khác với mô hình tổ chức hành chính của các đơn vị sự nghiệp trong các lĩnh vực khác. Hiện nay, các tổ chức khoa học và công nghệ công lập tuy có phát triển về mặt số lượng so với thời kỳ trước, nhưng quy mô và tiềm lực giảm sút đáng kể, có thể đánh giá là trong tình trạng báo động. Vì vậy, cần đổi mới chính sách để tổ chức khoa học và công nghệ công lập có cơ chế quản trị tổ chức phù hợp với đặc trưng này.
Thứ năm, nhân lực chủ chốt trong các tổ chức khoa học và công nghệ công lập chính là các nhà khoa học cần một môi trường làm việc thuận lợi để sáng tạo ra tri thức, vì vậy, không thể áp dụng quản lý nhân sự một cách hành chính mệnh lệnh, rập khuôn máy móc trong các tổ chức khoa học và công nghệ công lập. Hiện nay, nhân lực khoa học và công nghệ trong các tổ chức khoa học và công nghệ công lập mỏng dần do nhiều nguyên nhận như: chuyển ra khu vực khác làm việc,  nghỉ hưu không có nhân lực chất lượng thay thế, nhân lực trẻ không muốn vào vì thu nhập thấp hoặc không vào được vì  chỉ tiêu biên chế giảm, đặc biệt chính sách không cho phép các tổ chức khoa học và công nghệ công lập chưa tự chủ chi thường xuyên ký hợp đồng lao động làm công tác chuyên môn là rào cản cho  việc chuẩn bị lực lượng nghiên cứu kế cận có chất lượng cho tổ chức khoa học và công nghệ, v.v…
4. Bài học kinh nghiệm
Một là, đảm bảo thực hiện chủ trương đổi mới cơ chế hoạt động, cơ chế tự chủ của các đơn vị sự nghiệp công lập theo các Nghị quyết của Đảng; các Nghị quyết của Chính phủ.
Hai là, thống nhất với các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan đến việc thực hiện cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập được ban hành gần đây như: Luật Đất đai, Luật Đầu tư công; Luật Quản lý, sử dụng tài sản công; Luật Ngân sách nhà nước; Luật Phí, lệ phí,...).
Ba là, bảo đảm thực thi thống nhất những quy định, chính sách mới có liên quan chặt chẽ đến tổ chức và hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập nói chung và tổ chức khoa học và công nghệ công lập nói riêng sẽ sớm được ban hành, như: Cơ chế tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập sẽ được quy định tại Nghị định thay thế Nghị định số 16/2015/NĐ-CP; các vấn đề liên quan đến tổ chức và bộ máy của đơn vị sự nghiệp công lập sẽ được quy định tại Nghị định thay thế Nghị định số 55/2012/NĐ-CP ngày 28/6/2012 của Chính phủ quy định về thành lập, tổ chức lại, giải thể đơn vị sự nghiệp công lập; các vấn đề liên quan đến biên chế, vị trí việc làm của đơn vị sự nghiệp công lập sẽ được quy định tại Nghị định thay thế Nghị định số 41/2012/NĐ-CP ngày 08/5/2012 của Chính phủ quy định về vị trí việc làm trong đơn vị sự nghiệp công lập; các vấn đề khác liên quan đến hoạt động của tổ chức khoa học và công nghệ công lập theo quy định của pháp luật chuyên ngành;…
5. Kế hoạch phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ năm 2020
Thứ nhất, mục tiêu phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ: Hoàn thiện chính sách ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp, ưu đãi tiền thuê đất, thuê mặt nước đối với doanh nghiệp khoa học và công nghệ tại các Luật sửa đổi Luật thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật đất đai, Luật đầu tư. Xác định được 5000 doanh nghiệp đủ điều kiện chứng nhận doanh nghiệp khoa học và công nghệ. Phấn đấu 63 tỉnh, thành phố có doanh nghiệp khoa học và công nghệ. Phấn đấu hệ thống doanh nghiệp khoa học và công nghệ đóng góp khoảng 5% GDP cả nước.
Thứ hai, giải pháp phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ
Giải pháp chính sách, phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông, các Hiệp hội doanh nghiệp xây dựng văn bản hướng dẫn xác định các “dịch vụ mới” được tạo ra dựa trên việc ứng dụng công nghệ thông tin nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp khoa học và công nghệ trong lĩnh vực công nghệ thông tin hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp.
Tiếp tục kiến nghị, đề xuất bổ sung vào Luật sửa đổi Luật thuế thu nhập doanh nghiệp quy định ưu đãi đối với doanh nghiệp khoa học và công nghệ: (i) Mức ưu đãi (gồm ưu đãi về thuế suất 10% trong thời gian 15 năm và ưu đãi về thời gian miễn, giảm thuế); (ii) Hoàn thiện quy định về việc ưu đãi đối với kết quả khoa học và công nghệ mới và các sản phẩm, dịch vụ khoa học và công nghệ mới.
Đề xuất bổ sung hoạt động của doanh nghiệp khoa học và công nghệ vào danh mục ngành nghề ưu đãi đầu tư tại Luật Đầu tư sửa đổi: “a) Hoạt động công nghệ cao, … sản xuất, kinh doanh các sản phẩm hình thành từ kết quả khoa học và công nghệ” nhằm hoàn thiện quy định về hướng dẫn việc ưu đãi sử dụng đất của doanh nghiệp khoa học và công nghệ trong khu kinh tế, khu công nghệ cao tại Nghị định số 35/2017/NĐ-CP: Hưởng ưu đãi như doanh nghiệp thực hiện dự án thuộc lĩnh vực khuyến khích đầu tư.
Ban hành chính sách thành lập cơ sở ươm tạo, cơ sở kỹ thuật, khu làm việc chung theo quy định của Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017. Từ đó hình thành các cơ sở ươm tạo tiệm cận với mô hình ươm tạo của các nước khu vực và quốc tế, đáp ứng nhu cầu hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo.
Ban hành Thông tư hướng dẫn triển khai Nghị định số 13/2019/NĐ-CP. Năm 2019, Cục đã trình Lãnh đạo Bộ ký các công văn hướng dẫn triển khai thực hiện Nghị định. Xuất phát từ kiến nghị của các Sở Khoa học và Công nghệ (nhằm đảm bảo hiệu lực pháp lý của các quy định hướng dẫn chi tiết, đặc biệt là các quy định liên quan đến chính sách ưu đãi, hỗ trợ), đề xuất Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành Thông tư hướng dẫn việc triển khai Nghị định 13/2019/NĐ-CP tạo thuận lợi cho quá trình triển khai.
Giải pháp triển khai, hoạt động ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp khoa học và công nghệ, tại dự thảo Thông tư quy định về việc thành lập cơ sở ươm tạo, cơ sở kỹ thuật, khu làm việc chung: quy định trách nhiệm quản lý của Bộ Khoa học và Công nghệ đối với việc phát triển hoạt động ươm tạo; trách nhiệm của các Bộ/ngành/địa phương đối với việc phát triển hoạt động ươm tạo thuộc lĩnh vực ngành/địa phương quản lý và báo cáo kết quả hoạt động về Bộ Khoa học và Công nghệ.
Hỗ trợ các trường đại học kỹ thuật phối hợp với chính quyền tỉnh, thành phố thành lập các cơ sở ươm tạo, tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp.
Hoạt động chứng nhận doanh nghiệp khoa học và công nghệ, xây dựng tiêu chí nhận diện doanh nghiệp khoa học và công nghệ theo quy định của Nghị định số 13/2019/NĐ-CP và thu thập số liệu các doanh nghiệp đủ điều kiện chứng nhận doanh nghiệp khoa học và công nghệ.
Phối hợp với các Sở Khoa học và Công nghệ, các hiệp hội/hội doanh nghiệp tổ chức các hoạt động phổ biến, tuyên truyền chính sách pháp luật về doanh nghiệp khoa học và công nghệ và hỗ trợ lập hồ sơ đề nghị chứng nhận doanh nghiệp khoa học và công nghệ.
Tăng cường các hoạt động tập huấn, đào tạo cho cán bộ phụ trách về phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ ở các địa phương về công tác đánh giá, xác nhận kết quả khoa học và công nghệ tự nghiên cứu; giao quyền kết quả khoa học và công nghệ tạo ra từ nhiệm vụ sử dụng vốn nhà nước; thẩm định hồ sơ đề nghị chứng nhận doanh nghiệp khoa học và công nghệ.
Hỗ trợ các Sở Khoa học và Công nghệ xây dựng và trình Ủy ban nhân dân ban hành kế hoạch, đề án, chương trình hỗ trợ phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ tại địa phương.
Hỗ trợ phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ, phối hợp với các Sở Khoa học và Công nghệ giải quyết các chính sách ưu đãi theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp khoa học và công nghệ nhằm tạo lòng tin cho cộng đồng doanh nghiệp khoa học và công nghệ.
Phối hợp với các cơ quan liên quan (Cục Sở hữu trí tuệ, Cục Trồng trọt, Cục Bản quyền tác giả) trong việc tạo điều kiện thuận lợi giúp doanh nghiệp doanh nghiệp khoa học và công nghệ đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.
Hỗ trợ hoạt động của Hiệp hội doanh nghiệp khoa học và công nghệ Việt Nam. Hiệp hội sẽ hỗ trợ các doanh nghiệp lập hồ sơ chứng nhận doanh nghiệp khoa học và công nghệ và tiếp cận các chính sách ưu đãi.
Tăng cường tuyên truyền, giới thiệu về các doanh nghiệp khoa học và công nghệ điển hình, thành công, các sản phẩm khoa học và công nghệ chất lượng nhằm nâng cao giá trị thương hiệu doanh nghiệp khoa học và công nghệ, trở thành một thương hiệu mạnh, lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp khi được cấp chứng nhận.
Nguồn: Báo cáo chuyên đề của Bộ Khoa học và Công nghệ tổng kết Chương trình tổng thể cải cách
hành chính nhà nước giai đoạn 2011 - 2020 của Ban Chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ