Tin Video

Tinh gọn bộ máy: Vì nền hành chính Quốc gia

Thống kê truy cập

Lượt truy cập : 31.696.455

Khách Online : 111

Hoạt động giám sát của Nghị viện một số nước trên thế giới

08:10 29/10/2004 | Lượt xem : 10098

  • Xem với cỡ chữ T T
  • Inverts
  • Lượt xem : 10098
1. Quan niệm về chức năng giám sát
Chức năng giám sát của Nghị viện nhiều nước không được thể chế hoá bằng Hiến pháp hoặc những văn bản pháp luật cụ thể và không thể hiện tập trung thành chức năng độc lập, mà được thể hiện qua các hình thức hoạt động thực tiễn về giám sát của Nghị viện.
    Khái niệm giám sát được hiểu theo nghĩa: hạn chế việc Chính phủ, thành viên Chính phủ vượt quá các quyền hạn do Hiến pháp quy định nhằm bảo vệ quyền của công dân và các tổ chức khác. So sánh với khái niệm về giám sát của Quốc hội Việt Nam với một số nước như Thuỵ Điển, Na Uy, Phần Lan, Cu Ba, Lào…, có một số điểm giống nhau như sau:

    - Giám sát là kiểm tra hoạt động của Chính phủ (cơ quan hành pháp)
Nhìn chung, Quốc hội các nước trên thế giới được lập ra để đảm nhiệm một số chức năng phổ biến và đặc thù như: xây dựng Hiến pháp và pháp luật, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước như: ngân sách, chi tiêu, thuế khoá, chiến tranh, hoà bình, quan hệ đối ngoại, kiểm tra hoạt động của Chính phủ trong việc quyết định và thực hiện các chính sách quốc gia; thiết lập mối quan hệ giữa cử tri với cơ quan hành pháp hoặc người đứng đầu nhà nước; lựa chọn bộ máy và nhân viên cơ quan hành pháp (Chính phủ), các cán bộ cao cấp trong Chính phủ.
    - Giám sát để thực hiện nguyên tắc nhân dân kiểm tra và tham gia điều hành xã hội

    Ba chức năng được coi là tối quan trọng để phân biệt giữa Nghị viện thể chế và Nghị viện phi thể chế là:

    1. Thể chế hoá chính sách bằng pháp luật;
    2. Thiết lập mối quan hệ với công dân;
    3. Ra các quyết định quan trọng về chính sách quốc gia. Căn cứ vào các chức năng này, một nhà nghiên cứu tổ chức và hoạt động của Quốc hội cho rằng có thể đánh giá một Quốc hội thực chất hay chỉ mang tính hình thức.

    - Giám sát để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, thực hiện nền dân chủ xã hội

    Ơ các nước dân chủ Bắc Âu, để Quốc hội thực hiện vai trò là cơ quan đại diện của nhân dân và thực hiện nền dân chủ xã hội, việc kiểm tra Chính phủ và thành viên của Chính phủ có cản trở quyền tự do của nhân dân hay không được đánh giá rất cao, có tổ chức và hình thức hoạt động cụ thể để thực hiện việc kiểm tra này. Chức năng kiểm tra nói trên của Quốc hội các nước Bắc Âu (như Thuỵ Điển, Phần lan, Đan Mạch, Na Uy…) được thực hiện bởi một số Uỷ Ban quan trọng, Uỷ Ban thường trực là các cơ quan quan trọng của nhà nước do Quốc hội bầu (như Uỷ ban Hiến pháp, Uỷ ban lớn ở Phần Lan…), Các Uỷ ban khác được Quốc hội giao theo chương trình nghị sự và một số cơ quan thường trực là thành tra Quốc hội. Theo xu hướng này, hoạt động kiểm tra không còn là hoạt động chung trên diễn đàn hoặc chất vấn mà được thực hiện bởi các tổ chức cụ thể, chịu trách nhiệm trước Quốc hội, báo cáo thường xuyên trước Quốc hội về hoạt động kiểm tra của cơ quan mình.

    - Giám sát bằng chất vấn
    Ở một số Quốc hội cổ điển như Quốc hội Anh vào đầu thế kỷ thứ XVIII, Quốc hội chỉ mang tính chất là diễn đàn để các dân biểu phát biểu ý kiến của mình và phản ánh ý kiến của cử tri để chỉ trích hoạt động của Chính phủ, biểu lộ sự tín nhiệm hoặc không tín nhiệm đối với Chính phủ, cho ý kiến về thực hiện các chính sách quốc gia. Trong hình thức cổ điển này, vai trò giám sát của Quốc hội chỉ dừng ở hình thức chất vấn miệng. Trong hình thức này, Nghị viện Anh quốc là Nghị viện đầu tiên đặt ra các giờ hỏi, tương tự như chất vấn của Quốc hội Việt Nam. Kết quả của chất vấn có thể là một tuyên bố không tín nhiệm của Quốc hội đối với một thành viên hoặc toàn thể Chính phủ.

    - Giám sát không được pháp điển hoá với tư cách là chức năng riêng bên cạnh chức năng lập pháp
    Các tài liệu lập pháp phương Tây nghiên cứu về Quốc hội chủ yếu nhấn mạnh vai trò của Quốc hội qua các kỳ họp lập pháp (xây dựng pháp luật) hoặc cơ quan lập pháp, tuy tên gọi Quốc hội mỗi nước có khác nhau: Nghị viện, Quốc hội lập pháp, Viện dân biểu…(đối với Nghị viện các nước châu Âu hoặc theo mô hình châu Âu). Chức năng giám sát hầu như không được ghi vào Hiến pháp, luật và gắn với Quốc hội như là một chức năng độc lập. Xu hướng này là phổ biến.

    - Giám sát để cân bằng quyền lực ở cơ chế tổ chức tam quyền phân lập
    Theo hệ thống tổ chức của Quốc hội Mỹ, việc thực hiện tam quyền phân lập được coi là một nguyên tắc chủ yếu của tổ chức nhà nước. Nghị viên (Thượng viên và Hạ viện) được đặt ra với chức năng lập pháp là chủ yếu nhưng đồng thời cũng để thực hiện cân bằng quyền lực giữa cơ quan hành pháp, cơ quan tư pháp và các cơ quan nhà nước khác như Tổng thống….. Theo mô hình Phần Lan thì Tổng thống giữ vai trò trung gian giữa Quốc hội và Chính phủ. Theo mô hình tổ chức của Mỹ thì giám sát được coi là một hoạt động quan trọng nhưng không độc lập với lập pháp. Khái niệm giám sát để bình quyền được hiểu là quyền kiểm soát của Quốc hội đối với hoạt động của Chính phủ, kể cả Tổng thống, nhằm tránh việc lạm dụng quyền lực và thực hiện cán cân chính trị giữa các đảng phái, các lực lượng lãnh đạo xã hội.

    - Giám sát đi kèm với quyền hạn tập thể giám sát
    Hoạt động kiểm tra của Quốc hội được bảo đảm bởi việc quy định bằng Hiến pháp và pháp luật về quyền và cơ chế thực hiện quyền. Kiểm tra hoạt động của Chính phủ được thực hiện thông qua các hình thức hoạt động của kỳ họp toàn thể, của từng đại biểu, của các Uỷ ban hoặc của một số tổ chức do Quốc hội bầu nhằm thực hiện chức năng này. Cơ chế thực hiện quyền thể hiện ở quyền lực tập trung của Quốc hội bằng các quyết định tập thể nhằm sửa đổi, huỷ bỏ các quy định, quyết định trái pháp luật của nhân viên hành pháp, quyền bãi miễn, bãi nhiệm các chức vụ trong Chính phủ, quyền kiến nghị sửa đổi, bổ sung chính sách quốc gia, đưa ra ý kiến tín nhiệm hoặc không tín nhiệm Chính phủ, thay đổi Chính phủ.

    Nhìn chung, cũng giống như ở Việt Nam, ở các nước quyền hạn giám sát được thể hiện ở quyền kiểm tra việc thi hành Hiến pháp, luật và các quy định pháp luật của Chính phủ, quyền sửa đổi, bổ sung, huỷ bỏ văn bản trái pháp luật, quyền bãi miễn, bãi nhiệm, quyền kiến nghị, chất vấn….Đây là các quyền hạn và cũng là nhiệm vụ, hai yếu tố này tồn tại song song.

    - Giám sát là nguồn của kiến nghị lập pháp và là cơ sở kiến nghị quyết định về chính sách mới

    Cơ chế thực hiện quyền giám sát ở mỗi nước có khác nhau, nhưng tựu trung là nhằm sửa đổi hoạt động của cơ quan hành pháp trtên cơ sở lắng nghe kiến nghị, khiếu nại của nhân dân, bảo đảm nguyên tắc tuân thủ pháp chế. Giám sát cũng còn là nguồn để nắm tình hình đất nước, thu thập ý kiến công chúng về các chính sách quan trọng của quốc gia để sửa đổi, hình thành các chính sách mới. Ở điểm này, giám sát là cơ sở của lập pháp. Do vậy, hai chức năng này hỗ trợ cho nhau.

    Về cơ chế giám sát, khác với Việt Nam, Quốc hội nhiều nước, đặc biệt là các nước Bắc Âu đã đặt ra các tổ chức cụ thể để thực hịên quyền giám sát, đó là Thanh tra Quốc hội.

    2. Các hình thức tổ chức thực hiện giám sát
    Các hình thức tổ chức thực hiện chức năng giám sát của Quốc hội một số nước là:

        2.1. Thanh tra Quốc hội
Hình thức này có ở các nước Bắc Âu và Canada. Ở Pháp, năm 1972 Quốc hội ban hành Luật Tổ chức cơ quan thanh tra Quốc hội theo mô hình của các nước Bắc Âu chủ yếu thực hiện chức năng khiếu nại tố cáo.
Trên thực tế, không tránh khỏi sự chồng chéo về chức năng giữa Thanh tra Chính phủ và Thanh tra Quốc hội, vì công dân vừa có quyền khiếu nại tới Thanh tra Quốc hội, đồng thời tới Thanh tra Chính phủ. Do đó, ở Thuỵ Điển và Phần Lan, Luật Tổ chức Thanh tra Quốc hội quy định sự phối hợp chặt chẽ giữa Thanh tra Quốc hội với Thanh tra Chính phủ. Ở Phần Lan, nguyên tắc phối hợp này được bảo đảm bởi cơ chế tổ chức giữa Thanh tra Quốc hội với Quốc vụ khanh về tư pháp. Hai chức vụ này đều do Quốc hội bầu, chịu trách nhiệm trước Quốc hội về công tác khiếu tố dân nguyện. Thanh tra Quốc hội và Quốc vụ khanh tư pháp cùng sử dụng thư ký chung, nguồn thông tin chung “cơ sở dữ liệu khiếu nại, tố cáo”.

    Ở Anh, Thanh tra Quốc hội được gọi chính thức là Uỷ viên hội đồng về quản lý hành chính của Quốc hội, có nhiệm vụ điều tra các khiếu nại của công dân được chuyển đến qua các nghị sỹ, khi cho rằng có sự bất công do quản lý điều hành kém. Thanh tra Quốc hội độc lập với Chính phủ và báo cáo công việc với một Uỷ ban lựa chọn của Hạ viện. Thẩm quyền của Thanh tra Quốc hội liên quan tới các Bộ của Chính phủ trung ương và một số lớn các cơ quan công không phải là các Bộ. Thanh tra Quốc hội không có quyền điều tra các khiếu nại tới chính sách của Chính phủ, nội dung pháp luật và mối quan hệ với các nước.
Trong quá trình điều tra, Thanh tra Quốc hội có quyền tiếp xúc với tài liệu của tất cả các bộ và triệu tập những người mà Thanh tra muốn thu thập chứng cứ. Khi điều tra kết thúc, Thanh tra gửi báo cáo cùng với những phát hiện của mình tới nghị sĩ đã chuyển đơn khiếu nại (cùng với bản sao cho người khiếu nại). Trong các báo cáo có liên quan tới vấn đề xét xử, Thanh tra Quốc hội có kiến nghị cơ quan có liên quan sửa chữa (điều này có thể bao gồm kiến nghị bồi thường về tài chính cho người khiếu nại trong một số trường hợp thích ứng). không có kháng cáo đối với Thanh tra Quốc hội. Thanh tra Quốc hội gửi báo cáo hàng năm tới Quốc hội và công bố một số vụ án lựa chọn ba lần trong một năm.
Năm 1995, Thanh tra Quốc hội đã nhận được 1.706 khiếu nại mới; đã kết thúc được 245 cuộc điều tra, trong đó khám phá ra 236 vụ là hoàn toàn hoặc một phần đúng và 9 vụ là oan sai.

    2.2. Giám sát văn bản
    Trong các quy định về pháp điển hóa, hệ thống hoá và hợp nhất các văn bản pháp luật thuộc thẩm quyền của Quốc hội, Quốc hội nhiều nước như: Mỹ, Canada, Pháp và Quốc hội các nước Bắc Âu có quy định cụ thể về sửa đổi, huỷ bỏ các văn bản dưới luật trái với luật của Quốc hội và quy định trách nhiệm rà soát, hệ thống hoá, kiểm soát tính thống nhất của các văn bản dưới luật trong hệ thống pháp luật chung. Trong tài liệu nghiên cứu về hoạt động của Quốc hội các nước, giám sát văn bản không được coi là một hoạt động đặc thù của Quốc hội vì chức năng này thường được giao cho Toà án. Tuy nhiên, kết quả hoạt động giám sát văn bản của Toà án thường được Chính phủ thông qua cơ quan chức năng (Bộ Tư pháp ở Canada) đề nghị Quốc hội sửa đổi, bổ sung hoặc hợp pháp hóa việc chỉnh lý, hợp nhất, hệ thống hoá văn bản pháp luật.

    Giám sát các văn bản luật được ban hành theo uỷ quyền ở Anh. Để giảm bớt áp lực không cần thiết đối với Quốc hội về mặt thời gian, các luật gốc thường quy định cho phép các Bộ trưởng và các cơ quan có thẩm quyền ban hành các quy định có tính chất đieèu hành chi tiết về mặt hành chính. Đây là nguồn văn bản luật thứ hai hay còn gọi là ban hành văn bản luật theo thẩm quyền. Nhằm giảm bớt những rủi ro do việc uỷ quyền cho các cơ quan điều hành, những quyền hạn như vậy chỉ được giao lại cho những cơ quan trực tiếp chịu trách nhiệm trước Quốc hội. Hơn nữa, những văn bản luật của Quốc hội có đề cập về việc uỷ quyền thường quy định một số biện pháp giám sát trực tiếp của Quốc hội đối với các văn bản luật được ban hành theo uỷ quyền, bằng các quy định Quốc hội có quyền phê chuẩn hoặc huỷ bỏ các văn bản này. Một số đạo luật còn quy định rằng các tổ chức bị ảnh hưởng bởi luật phải được tham vấn trước khi được ban hành các quy tắc và quy định có liên quan tới các tổ chức đó.

    Một Uỷ ban chung của cả hai Viện sẽ có báo về những vấn đề kỹ thuật của các văn bản pháp luật. Một trong những dạng đặc biệt của các văn bản pháp luật này là các lệnh được ban hành theo uỷ quyền và phải tuân theo các thủ tục xem xét của các Uỷ ban khác nhau của mỗi Viện. Để tiết kiệm thời gian, Hạ viện sử dụng các Uỷ ban thường trực để thảo luận về nội dung của các văn bản; sau đó toàn thể Viện sẽ đưa ra những quyết định thực sự. Thượng viện chỉ định một Uỷ ban về thẩm tra các quyền hạn được uỷ quyền, Uỷ ban này xem xét tính hợp lý của thẩm quyền ban hành pháp luật theo uỷ quyền trong các dự án luật khi chúng được chuyển đến Viện.

        2.3. Chất vấn
Chất vấn là một hoạt động giám sát đặc thù của các Nghị viện trên thế giới. Chất vấn của Nghị viện là những yêu cầu thể hiện bằng miệng hoặc văn bản của các Nghị sĩ đối với Chính phủ và các thành viên của Chính phủ đề nghị giải thích một vấn đề nào đó. Những chất vấn của Nghị sĩ khác ở một điểm: đây là chất vấn của người đại diện cho cơ quan quyền lực nhà nước, mang tính chất kiểm tra, giám sát của cơ quan quyền lực đối với hoạt động của Chính phủ. Các Nghị viện phương Tây thực hiện quyền chất vấn ít nhiều có tác dụng hạn chế sự lạm dụng quyền hạn của những nhà cầm quyền tư bản và nâng cao vai trò giám sát của Nghị viện.

    Ở Anh, các chất vấn của Nghị sĩ được Đoàn chủ tịch Nghị viện phân ra các loai: chất vấn các vấn đề có liên quan đến gia đình Nữ hoàng; những vấn đề có liên quan đến các quyết định của Toà án; những vấn đề có liên quan đến hệ thống pháp luật và những vấn đề khác… Thủ tướng và các thành viên nội các có quyền từ chối việc trả lời chất vấn, song thủ tục của việc từ chối này rất phức tạp, những vấn đề từ chối phải được Nghị viện thảo luận và nhất là phải nêu rõ lý do từ chối việc trả lời.

    Ngoài hệ thống thẩm tra bởi các Uỷ ban lựa chọn, ở hai Viện còn có những phương thức khác để thành viên đảng đối lập cũng như các thành viên thứ yếu khác của Chính phủ thẩm tra các chính sách của Chính phủ. Ở Hạ viện, những phương thức này là:

    - Thời gian chất vấn: sẽ kéo dài 55 phút, vào các ngày thứ hai, thứ ba, thứ tư và thứ năm, các Bộ trưởng phải trả lời câu của các Nghị sĩ. Thời gian trả lời chất vấn của Thủ tướng là vào mỗi thứ ba và thứ năm hàng tuần, khi toàn thể Viện họp. Các câu hỏi nêu ra tại Nghị viên là một phương thức để tìm hiểu thông tin về các dự định của Chính phủ. Đây cũng là cách thức để các Nghị sĩ nêu ra các khiếu nại và mong muốn của cử tri. Các Nghị sĩ có thể nêu câu hỏi để các Bộ trưởng trả lời bằng văn bản; các câu hỏi và các câu trả lời được in trong báo cáo chính thứcvề diễn biến các cuộc họp của Nghị viện. Mỗi năm có khoảng 50.000 câu hỏi chất vấn.
    - Các cuộc thảo luận mang tính chất trì hoãn, khi các Nghị sĩ sử dụng các kiến nghị để trì hoãn thời gian họp của Viện để nêu lên các vấn đề của cử tri hoặc của công chúng nói chung. Thời gian này kéo dài khoảng nửa giờ vào cuối ngày làm việc, trước mỗi kỳ nghỉ của Quốc hội (như kỳ nghỉ lễ Giáng sinh, lễ phục sinh và nghỉ hè). Có 3 giờ để dành riêng cho việc thảo luận các vấn đề do cá nhân Nghị sĩ nêu ra.

    Thêm vào đó, những Nghị sĩ có yêu cầu thảo luận “vấn đề đặc biệt và nghiêm trọng cần phải xem xét khẩn cấp” thì có thể kiến nghị xin phép được sử dụng phương thức trì hoãn nói trên vào cuối thời gian chất vấn. Vào một số dịp hiếm hoi, khi các kiến nghị này được chấp nhận, vấn đề được coi là cần thảo luận khẩn cấp đã được thảo luận trong vòng ba giờ, thông thường là vào ngày tiếp theo.
    - Các kiến nghị vào đầu ngày họp: đây là dịp để các Nghị sĩ thành viên thứ yếu thể hiện quan điểm của họ về những vấn đề đặc biệt. Các kiến nghị này được xem xét mỗi ngày, nhưng rất hiếm khi được thảo luận. Tuy nhiên, chúng giúp để đánh giá về mức độ ủng hộ đối với một vấn đề qua các chữ ký của các Nghị sĩ quan tâm đến kiến nghị.
    - Thời gian 20 ngày dành cho Đảng đối lập vào mỗi phiên họp: Đảng đối lập chọn các vấn đề để thảo luận. Trong khoảng thời gian này, thì 17 ngày là dành cho người đứng đầu đảng đối lập lớn nhất và ba ngày dành cho đảng đối lập lớn thứ hai.
    - Ba ngày thảo luận tại mỗi phiên họp về các chi tiết của dự toán chi tiêu của Chính phủ, do Uỷ ban liên lạc chọn.

    Các cơ hội để chỉ trích Chính phủ cũng có thể có vào dịp thảo luận về bài phát biểu của Nữ hoàng vào đầu mỗi kỳ họp; vào các cuộc thảo luận về các kiến nghị khiển trách chính thức của Chính phủ tạo cơ hội về mặt thời gian; và vào các cuộc thảo luận về các Dự án luật của Chính phủ cũng như các dự án khác.

    + Ở Thượng viện, các cơ hội để xem xét và chỉ trích chính sách của Chính phủ cũng tương tự như ở Hạ viện và vào thời gian chất vấn mỗi ngày, bằng phương thức thảo luận cũng như trả lời bằng văn bản các câu hỏi.

    Những chất vấn của Nghị sĩ đều được coi là chất vấn của Nghị viện. Trên thực tế, Nghị sĩ Quốc hội nước Anh thường dùng chất vấn bằng văn bản. Trong mỗi kỳ họp của Nghị viên Anh kéo dài 176 ngày, Chính phủ đã nhận được 24.000 chất vấn miệng và gần 40.000 chất vấn bằng văn bản.

    Ở Cộng hoà Liên bang Đức, các chất vấn của Nghị viện được chia làm ba loại: những chất vấn “lớn”, những chất vấn “nhỏ” và những vấn đề “riêng lẻ”.

    Chất vấn “lớn” là chất vấn được đưa ra khi thảo luận các chương trình của Chính phủ và các dự án quan trọng như ngân sách nhà nước, chính sách đối ngoại…. Việc trả lời những chất vấn này phải được thảo luận ở nghị trường và được gọi là “thảo luận lớn”. Những chất vấn liên quan đến dự án luật và các loại văn bản khác là những chất vấn “nhỏ”, được gọi là thảo luận “nhỏ” mà trong đó các đảng phải được phát biểu không quá hai người.
Chất vấn “lớn” và “nhỏ” về nguyên tắc phải được đưa sớm để người được chất vấn chuẩn bị trả lời. Nhiều chất vấn được đưa tới các Uỷ ban, các ban của Nghị viện thảo luận trước. Những chất vấn khác là chất vấn riêng lẻ, phải được đưa vào một thời gian quy định trước. Chất vấn của Nghị sĩ lên tới hàng nghìn. Hàng năm chỉ riêng Bộ Ngoại giao đã phải trả lời từ 1.800 đến 2000 chất vấn.
Ở Phần Lan, chất vấn của Nghị sĩ được xem là một trong những hình thức kiểm tra hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước. Chất vấn được đưa ra dưới dạng văn bản, nhưng trả lời thì có thể bằng miệng. Trong những trường hợp từ chối việc trả lời thì phải thông báo lý do. Nếu chất vấn nào được trên 20 Nghị sĩ ủng hộ thì phải trả lời chậm nhất là sau 15 ngày kể từ ngày nhận được chất vấn.
Căn cứ vào tính chất của chất vấn, Chính phủ có quyền yêu cầu Nghị viện không đưa vấn đề đó ra thảo luận. Mặt khác, nếu đại đa số Nghị sĩ cho rằng sự trả lời của Chính phủ là không thoả đáng thì có quyền bãi miễn Chính phủ.

    Ở Pháp, Chính phủ phải giải thích và chứng minh những quyết định hành động của mình trước Quốc hội. Vì vậy, Quốc hội Pháp thực hiện quyền chất vấn của mình. Khái niệm chất vấn bao gồm các hình thức trao đổi nhằm bảo đảm chức năng giám sát và đảm bảo thông tin cho đại biểu Quốc hội về hoạt động của Chính phủ và bộ máy hành chính. Chất vấn được đưa vào chương trình nghị sự của Quốc hội từ năm 1875 và hình thức chất vấn bằng văn bản được bổ sung từ năm 1910. Chất vấn miệng được tiến hành theo hai hình thức: chất vấn có thảo luận và chất vấn không thảo luận. Quốc hội tiến hành chất vấn Chính phủ trong thời gian kỳ họp hàng tuần, vào đầu giờ phiên họp buổi chiều ngày thứ tư. Các câu hỏi được mang tính tự phát, ngắn gọn và có nhiều tính chất thời sự…. Phiên họp này là thời điểm quan trọng trong tuần làm việc của Quốc hội.

    Ở Ấn Độ, các Nghị sĩ thường xuyên giám sát Chính phủ bằng chất vấn. Nghị viện dành thời gian đầu giờ các phiên họp buổi sáng để thảo luận các chất vấn, xau đó mới xem xét các vấn đè khác. Nếu là chất vấn bằng văn bản thì được công bố trong các ấn phẩm của Nghị viện.

        2.4. Đoàn giám sát thực tế
    Ở nhiều nước, chức năng giám sát (kiểm tra) hoạt động của Chính phủ được Nghị viện giao cho Uỷ ban thường trực hoặc Uỷ ban đặc biệt được thành lập để kiểm tra một vấn đề, một hoạt động nào đó của Chính phủ hoặc thành lập các nhóm công tác đi tìm hiểu nắm tình hình trong và ngoài nước về lĩnh vực mình theo dõi.
Uỷ ban thường trực Quốc hội thể hiện vai trò giám sát thường xuyên ở các nước mà Quốc hội không họp thường xuyên. Quốc hội cũng có thể lập các Uỷ ban lâm thời trong thời gian 6 tháng để kiểm tra việc quản lý hành chính, tài chính, kỹ thuật của các cơ quan xí nghiệp nhà nước.

    Ở Trung Quốc, Uỷ ban thường vụ Quốc hội thường xuyên tổ chức các Đoàn giám sát và tìm hiểu thực tế do phó Uỷ viên trưởng dẫn đầu (hiện nay Uỷ ban thường vụ Quốc hội đang được giao soạn thảo Luật Giám sát). Các hoạt động giám sát của Đại hội đại biểu nhân dân địa phương được tiến hành theo chương trình, trên cơ sở các ý kiến của nhân dân, bằng hình thức các Đoàn giám sát, nghe báo cáo chuyên đề, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân…

    Ở nhiều nước, ngay từ đầu thế kỷ XIX, Nghị viên bổ nhiệm một Thanh tra Quốc hội trong số các Nghị sĩ để thực hiện chức năng giám sát bộ máy hành pháp và các thành viên trong bộ máy này. Chế định Thanh tra Quốc hội bắt đầu được áp dụng ở Thuỵ Điển năm 1809 và sau đó được nhiều nước khác áp dụng.

    Theo Hiến pháp Thuỵ Điển, Nghị viện có 4 bộ phận thực hiện chức năng giám sát theo đề nghị của Nghị viên. Mỗi bộ phận hoàn toàn độc lập theo chức năng được Nghị viện giao phó. Một trong 4 bộ phận này là Thanh tra Quốc hội. Đây là một tổ chức kiểm tra những việc làm của cơ quan nhà nước vi phạm đến quyền lợi của công dân, có vai trò vô cùng quan trọng là bảo đảm chống lại sự áp đặt trong việc xét xử cũng như các công tác khác có liên quan đến quyền lợi của công dân. Năm 1776, Thanh tra Quốc hội chỉ có một người, mãi tới năm 1809 mới thành lập thanh tra Quốc hội bao gồm nhiều thành viên. Thành viên của cơ quan này thường là những thẩm phán giỏi do Nghị viện bầu, được bầu với nhiệm kỳ 4 năm và có thể được bầu lại trong những nhiệm kỳ sau. Do là Thẩm phán, nên thanh tra viên có kiến thức pháp lý vững vàng, giúp họ có đủ khả năng thẩm tra, thu thập bất cứ thông tin nào mà họ cho là cần thiết. Thanh tra Quốc hội tiếp nhận đơn thư tố cáo hoặc có thể dựa vào nguồn thông tin do báo chí, đài phát thanh, truyền hình…để quyết định điều tra những vụ việc ở từng cơ quan cụ thể.
Thanh tra Quốc họi có quyền yêu cầu truy tố công chức ra Toà và báo cáo kết quả thanh tra của mình cho chính quyền nơi người công chức đó đang làm việc để cơ quan có biện pháp thi hành kỷ luật hoặc sa thải.

    Hàng năm, Thanh tra Quốc hội phải làm báo cáo tổng hợp lên Nghị viện. Báo cáo này bao gồm những kiến nghị cho việc sửa đổi, bổ sung các điều khoản của luật nếu thấy rằng luật chưa được hoàn chỉnh hoặc chưa sát với thực tế thi hành.

        2.5. Rút bỏ sự tín nhiệm của Chính phủ.
    Chính phủ có thể đặt vấn đề xem xét sự tín nhiệm của mình trước Nghị viện. Đây là biện pháp chỉ được áp dụng ở chính thể Cộng hoà Nghị viện, tức là nơi Chính phủ được thành lập trên cơ sở thành phần Nghị sĩ. Ở đây Chính phủ chỉ được thi hành nhiệm vụ hành pháp của mình khi vẫn còn tín nhiệm với Quốc hội. Khi Chính phủ cảm thấy không còn tin tưởng vững chắc vào sự tín nhiệm của mình trước Quốc hội thì bản thân Chính phủ tự nêu lên vấn đề này với Quốc hội. Sự đặt vấn đề bất tín nhiệm này có thể được bắt đầu bằng việc Quốc hội không đồng ý thông qua các đề án mà Chính phủ đệ trình, thì Thủ tướng Chính phủ phải đệ đơn xin Tổng thống cho nội các từ chức.
Khi Chính phủ không tự rút lui, thì Quốc hội có quyền nêu vấn đề bất tín nhiệm bằng cách thông qua nghị quyết khiển trách Chính phủ làm cho Chính phủ đương nhiên phải từ chức.

    Sự bất tín nhiệm để thay đổi Chính phủ là một chế tài gay gắt, nên để hạn chế việc dùng đến biện pháp này, pháp luật quy định một số điều kiện khắt khe khi sử dụng. Hạn chế thứ nhất thường được áp dụng là phải có một số Nghị sĩ ký tên vào kiến nghị bất tín nhiệm thì kiến nghị mới được xem xét. Điều 49 Hiến pháp nền Cộng hoà thứ V của Pháp quy định: Quốc hội (Hạ viện) có thể đặt vấn đề bất tín nhiệm Chính phủ bằng việc thông qua một nghị quyết khiển trách. Dự án nghị quyết khiển trách Chính phủ được Hạ viện thảo luận chỉ khi có ít nhất 1/10 tổng số Hạ nghị sĩ có chữ ký đồng ý. Hạn chế thứ hai là việc biểu quyết chỉ được tiến hành trong một thời hạn ngắn từ 1 đến 3 ngày, kể từ khi dự thoả nghị quyết được đệ trình. Hạn chế thứ ba, nếu nghị quyết không được quá bán tổng số nghị sĩ đồng ý, thì trong suốt thời gian tiến hành khoá họp, việc bất tín nhiệm không được đưa ra lần thứ hai.

    Ở Anh, khả năng Hạ viện buộc Chính phủ phải từ chức là quyền hạn kiểm soát cuối cùng, được thực hiện bằng việc thông qua một nghị quyết về việc “bất tín nhiệm”. Chính phủ buộc phải từ chức cả trong trường hợp khi Hạ viện phản đối một dự án mà Chính phủ coi là vô cùng quan trọng đối với chính sách của mình đến nỗi coi đó là “vấn đề của sự tín nhiệm” hoặc khi Hạ viện từ chối biểu quyết chi tiền cho hệ thống dịch vụ công cộng.

    Trường hợp Chính phủ đặt vấn đề bất tín nhiệm trước Quốc hội chỉ được sử dụng trong giai đoạn hiện nay để có lợi cho Chính phủ. Theo quy định của các nước áp dụng chế định này, Chính phủ tư sản thường dùng biện pháp này để đe doạ Nghị viện trước thảm hoạ có thể bị giải thể, buộc Nghị viện phải thông qua các dự án, chính sách của Chính phủ.

    Trên đây là những nét khái quát về hoạt động giám sát của Nghị viện một số nước trên thế giới. Thiết nghĩ, việc tìm hiểu các hoạt động giám sát ấy mang lại cho chúng ta một số kinh nghiệm có thể tham khảo trong quá trình xác định cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước ở nước ta hiện nay.

NCV. Vũ Đình Nam-Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật