Công bố chỉ số cải cách hành chính (Par Index)

Thống kê truy cập

Lượt truy cập : 31.344.868

Khách Online : 101

Cải cách chính sách bảo hiểm xã hội góp phần bảo đảm an sinh xã hội, thúc đẩy tiến bộ và công bằng xã hội để phát triển bền vững đất nước

15:06 04/06/2019 | Lượt xem : 380

  • Xem với cỡ chữ T T
  • Inverts
  • Lượt xem : 380
Chính sách bảo hiểm xã hội (bao gồm bảo hiểm hưu trí - tử tuất; bảo hiểm thất nghiệp; bảo hiểm ốm đau, thai sản và bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp) với vai trò là một trụ cột chính của hệ thống an sinh xã hội luôn được Đảng, Nhà nước ta quan tâm phát triển và coi đó vừa là mục tiêu, vừa là động lực đối với sự phát triển bền vững đất nước cũng như thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, sự nỗ lực của các cấp ủy đảng, chính quyền địa phương, các Bộ, ngành, các tổ chức chính trị - xã hội, cộng đồng doanh nghiệp và người lao động; sự hỗ trợ, hợp tác hiệu quả của các quốc gia, tổ chức quốc tế, hệ thống chính sách, pháp luật về bảo hiểm xã hội đã không ngừng được bổ sung, hoàn thiện, ngày càng phù hợp hơn với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; góp phần quan trọng vào nhiệm vụ bảo đảm an sinh xã hội, thúc đẩy tiến bộ và công bằng xã hội để phát triển bền vững đất nước trong quá trình đổi mới, phát triển và hội nhập quốc tế.
Những kết quả chủ yếu trong thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội ở nước ta thời gian qua
Trong suốt thời kỳ đổi mới, đặc biệt là từ năm 1995 đến nay, thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, chính sách bảo hiểm xã hội đã được thể chế hóa theo hướng ngày càng hoàn thiện hơn về chế độ, chính sách, cơ chế quản lý, cơ chế tài chính. Cụ thể là:

1- Hệ thống chính sách bảo hiểm xã hội đã được hình thành khá đồng bộ, bao quát hầu hết các chế độ bảo hiểm xã hội theo thông lệ quốc tế: Gồm cả loại hình bảo hiểm xã hội bắt buộc và bảo hiểm xã hội tự nguyện; đối với cả người có quan hệ lao động lẫn người không có quan hệ lao động; cho cả khu vực kinh tế chính thức lẫn phi chính thức.
2- Hệ thống chính sách bảo hiểm xã hội, các quan hệ bảo hiểm xã hội được thiết kế, điều chỉnh và vận hành ngày càng phù hợp hơn. Với vai trò chủ đạo của Nhà nước, sự tham gia của người lao động và người sử dụng lao động, Quỹ Bảo hiểm xã hội đã trở thành quỹ an sinh lớn nhất, hoạt động theo nguyên tắc đóng - hưởng và chia sẻ giữa những người lao động cùng thế hệ và giữa các thế hệ tham gia bảo hiểm xã hội. Tổng số tiền chi cho các chế độ hưu trí, tử tuất, mất sức lao động và trợ cấp hằng tháng năm 2017 từ Quỹ Bảo hiểm xã hội là 132.140 tỷ đồng, tăng hơn 9 lần so với thời điểm ngày 01/01/2007 - là năm đầu tiên thực hiện Luật Bảo hiểm xã hội. Tổng số chi hưu trí, tử tuất năm 2017 từ nguồn ngân sách nhà nước là 44.875 tỷ đồng, chỉ còn 25,35% so với tỷ lệ 56,2% tại thời điểm ngày 01/01/2007.
3- Diện bao phủ bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật và quy mô tham gia bảo hiểm xã hội trên thực tế ngày càng được mở rộng. Tính đến năm 2017, tổng số người tham gia bảo hiểm xã hội là 13,9 triệu người (trong đó bảo hiểm xã hội bắt buộc là 13,6 triệu người, bảo hiểm xã hội tự nguyện là 0,3 triệu người), tăng hơn 2,3 lần so với thời điểm Luật Bảo hiểm xã hội số 71/2006/QH11 có hiệu lực từ ngày 01/01/2007; số người tham gia bảo hiểm thất nghiệp là 11,7 triệu người. Đến nay, đã và đang thực hiện chế độ, chính sách cho trên 3 triệu người hưởng chế độ hưu trí, bảo hiểm xã hội hằng tháng. Trong năm 2017, có 9,1 triệu lượt người hưởng chế độ ốm đau, thai sản, dưỡng sức phục hồi sức khỏe; 0,7 triệu lượt người hưởng chế độ trợ cấp thất nghiệp; trên 56 nghìn người hưởng chế độ tai nạn, bệnh nghề nghiệp hằng tháng.
4- Mô hình tổ chức hệ thống bảo hiểm xã hội cơ bản phù hợp với thông lệ quốc tế với việc tách cơ quan quản lý nhà nước với cơ quan tổ chức thực hiện chính sách đã phát huy được vai trò và tính hiệu quả trong từng khâu thiết kế, xây dựng, hoạch định, tổ chức thực hiện chính sách, thu, chi và quản lý Quỹ Bảo hiểm xã hội. Năng lực, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội được tăng cường. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội thường xuyên được sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện; công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc chấp hành pháp luật bảo hiểm xã hội được chú trọng hơn; công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế về bảo hiểm xã hội được đẩy mạnh.
Bên cạnh những thành tựu quan trọng nêu trên, việc tổ chức thực hiện chủ trương đổi mới, nâng cao hiệu quả chính sách bảo hiểm xã hội cũng còn nhiều hạn chế, yếu kém, như diện bao phủ bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật cũng như quy mô tham gia bảo hiểm xã hội trên thực tế còn thấp, chưa hướng đến bao phủ toàn dân. Hệ thống bảo hiểm xã hội về cơ bản còn thiết kế đơn tầng, sự kết nối giữa chính sách bảo hiểm xã hội với các chính sách xã hội khác chưa đồng bộ, thiếu chặt chẽ. Bảo hiểm xã hội bắt buộc còn bỏ sót một số nhóm đối tượng có nhu cầu và có khả năng tham gia. Trên thực tế, năm 2017 mới chỉ đạt gần 29% lực lượng lao động trong độ tuổi tham gia bảo hiểm xã hội, vẫn còn trên 70% chưa tham gia. Mục tiêu đến năm 2020, có 50% lực lượng lao động tham gia bảo hiểm xã hội theo Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 10/6/2012 của Hội nghị Trung ương 5 khóa XI “Một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012 - 2020” và Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 22/11/2012 của Bộ Chính trị “Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế giai đoạn 2012 - 2020”, không đạt được. Các nguyên tắc công bằng, đóng - hưởng, chia sẻ và bảo đảm bền vững tài chính chưa được quán triệt đầy đủ, quỹ hưu trí và tử tuất có nguy cơ mất cân đối trong dài hạn, chính sách bảo hiểm thất nghiệp nặng về giải quyết hậu quả khi người lao động thất nghiệp mà chưa chú ý thỏa đáng đến phòng ngừa, giảm thiểu tình trạng thất nghiệp.
Công thức tính lương hưu giữa nam và nữ, giữa lao động khu vực nhà nước và khu vực ngoài nhà nước còn có sự không công bằng, việc thể chế hóa nguyên tắc này còn chậm (Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 quy định người lao động trong khu vực nhà nước khi nghỉ hưu, tính bình quân toàn bộ quá trình đóng bảo hiểm xã hội như người lao động khu vực ngoài nhà nước. Tuy nhiên, quy định này chỉ áp dụng đối với những người bắt đầu tham gia bảo hiểm xã hội từ năm 2025. Như vậy, người lao động trong khu vực nhà nước sớm nhất tính bình quân toàn bộ quá trình đóng bảo hiểm xã hội là người nghỉ hưu từ năm 2045). Tổ chức thực hiện còn vướng mắc(1).
Thiết kế chính sách bảo hiểm hưu trí nhiều điểm chưa phù hợp: 1- Quy định thời gian tham gia bảo hiểm xã hội để được hưởng lương hưu quá dài (20 năm) trong khi điều kiện hưởng bảo hiểm xã hội một lần khá dễ dàng(2), mức hưởng bảo hiểm xã hội một lần cao(3); 2- Công thức tính lương hưu thiết kế chưa hợp lý, nặng về nguyên tắc đóng - hưởng, chưa chú ý thỏa đáng nguyên tắc chia sẻ để thu hẹp khoảng cách về mức sống giữa những người hưởng lương hưu(4); 3- Số người hưởng chế độ hưu trí, tử tuất tăng nhanh, số người mới tham gia tăng chậm, năm 1996 có 217 người đang đóng bảo hiểm xã hội thì chỉ có 1 người đang hưởng chế độ hưu trí; năm 2006 tỷ lệ này là 12,6/1 và năm 2016 là 8,5/1; số người hưởng bảo hiểm xã hội một lần cao, trong giai đoạn 2012 - 2017, mỗi năm bình quân có 628 nghìn người hưởng bảo hiểm xã hội một lần, dẫn đến số người tham gia bảo hiểm xã hội tăng thêm chỉ là 594 nghìn người; tức là cứ có 2 người mới tham gia vào bảo hiểm xã hội thì có 1 người rời khỏi hệ thống; mức hưởng lương hưu cao và thời gian hưởng quá dài trong mối tương quan với mức đóng và thời gian đóng. Tuổi thọ bình quân tăng nhanh nhưng tuổi nghỉ hưu được quy định từ năm 1960, đến nay đã gần 60 năm vẫn không thay đổi, tạo áp lực cho khả năng cân đối của Quỹ.
Bảo hiểm thất nghiệp chưa thực sự trở thành công cụ quản trị thị trường lao động. Chính sách bảo hiểm thất nghiệp chú trọng các giải pháp giải quyết hậu quả thông qua hỗ trợ người lao động nhận trợ cấp thất nghiệp, đào tạo đáp ứng yêu cầu của công việc mới, giới thiệu việc làm mà chưa chú ý thỏa đáng đến các giải pháp phòng ngừa, như hỗ trợ doanh nghiệp duy trì việc làm, tránh sa thải lao động, thu hút lao động thất nghiệp dài hạn khó tìm việc làm... như thông lệ các nước(5).
Chưa thực hiện điều chỉnh lương hưu độc lập với tiền lương của người đang làm việc theo Kết luận số 63-KL/TW ngày 27/5/2013 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI “Một số vấn đề về cải cách chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội, trợ cấp ưu đãi người có công và định hướng cải cách đến năm 2020” và Luật Bảo hiểm xã hội. Hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước còn hạn chế. Tình trạng vi phạm pháp luật, trốn đóng, nợ đóng bảo hiểm xã hội, nhất là ở khu vực doanh nghiệp còn khá phổ biến, chậm được khắc phục. Tổ chức thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp còn nhiều hạn chế. Cơ chế quản lý, cơ chế tài chính và nhân sự thực hiện bảo hiểm thất nghiệp còn bất hợp lý, phụ thuộc vào ngân sách nhà nước, chưa phù hợp với nguyên lý bảo hiểm và thông lệ quốc tế nhưng chậm được sửa đổi, chưa phát huy được các chức năng tích cực của chính sách. Nhận thức của một bộ phận người lao động và người sử dụng lao động về bảo hiểm xã hội chưa đầy đủ. Công tác thông tin, tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật hiệu quả chưa cao.
Những hạn chế, yếu kém nêu trên do nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân chủ quan là chủ yếu:
Thứ nhất, chính sách bảo hiểm xã hội của nước ta mới được hình thành và phát triển cùng với quá trình chuyển đổi mô hình kinh tế từ kế hoạch hóa tập trung, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong khi tư duy, lý luận, nhận thức về bảo hiểm xã hội cần quá trình từng bước hoàn chỉnh; năng lực thiết kế hệ thống còn hạn chế. Việc hình thành, hoàn thiện chính sách bảo hiểm xã hội đòi hỏi thời gian dài, trong khi chúng ta mới thực hiện được hơn 20 năm. Vì vậy, việc xây dựng chính sách, pháp luật, thiết kế bộ máy tổ chức thực hiện bảo hiểm xã hội còn lúng túng, thiếu nhất quán, chưa đồng bộ.
Thứ hai, đặc trưng cơ cấu lao động ở nước ta là phần lớn làm việc ở khu vực không có quan hệ lao động. Thu nhập của số đông người dân còn thấp và không ổn định, áp lực chi tiêu trước mắt lớn. Mạng lưới an sinh xã hội phi chính thức dựa trên mô hình gia đình truyền thống còn phổ biến. Do đó, không ít người dân chưa quan tâm tham gia bảo hiểm xã hội.
Thứ ba, năng lực xây dựng và tổ chức thực hiện chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước về bảo hiểm xã hội nhiều mặt còn hạn chế. Nhận thức còn chưa đầy đủ, sâu sắc, chưa coi công tác này là một trụ cột trong phát triển bền vững kinh tế - xã hội. Khả năng phân tích, dự báo còn bất cập. Công tác sơ kết, tổng kết thực tiễn và kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm chưa được thực hiện tốt.
Thứ tư, công tác thông tin, truyền thông chưa được chú trọng. Nhận thức của các chủ thể tham gia bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa còn nhiều hạn chế, nhất là ý thức về quyền lợi, trách nhiệm đóng góp bảo hiểm xã hội của người sử dụng lao động và người lao động.
Định hướng hoàn thiện chính sách bảo hiểm xã hội theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khóa XII (Nghị quyết số 28-NQ/TW)
Sau hơn 30 năm đổi mới (1986 - 2018), nước ta đã ra khỏi tình trạng nước kém phát triển, tiềm lực đất nước đã được tăng cường đáng kể; truyền thống đoàn kết, tương thân, tương ái của dân tộc tiếp tục được phát huy; hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng; có nhiều kinh nghiệm quý qua hơn 20 năm phát triển chính sách bảo hiểm xã hội. Tuy nhiên, kinh tế trong nước còn khó khăn, nguồn lực ngân sách nhà nước hạn hẹp; thu nhập của nhiều người dân còn thấp và chưa ổn định; tỷ lệ lao động trong khu vực phi chính thức ở mức cao; việc điều chỉnh một số chế độ bảo hiểm xã hội qua nhiều giai đoạn để bảo đảm bền vững Quỹ Bảo hiểm xã hội cũng tạo ra những bất hợp lý nhất định; áp lực của già hóa dân số đối với hệ thống bảo hiểm xã hội rất lớn; tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 làm thay đổi nhanh về cơ cấu lao động và quan hệ lao động. Bối cảnh, điều kiện mới hiện nay đang đặt ra nhiều cơ hội, thách thức đan xen, đòi hỏi phải có những quan điểm chỉ đạo về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội phù hợp.
Một là, bảo hiểm xã hội là một trụ cột chính của hệ thống an sinh xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, góp phần quan trọng thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo đảm ổn định chính trị - xã hội, đời sống nhân dân và phát triển bền vững đất nước.
Hai là, phát triển hệ thống chính sách bảo hiểm xã hội linh hoạt, đa dạng, đa tầng, hiện đại, hội nhập quốc tế hướng tới bao phủ toàn dân theo lộ trình phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, kết hợp hài hòa các nguyên tắc đóng - hưởng; công bằng, bình đẳng; chia sẻ và bền vững.
Ba là, cải cách chính sách bảo hiểm xã hội vừa mang tính cấp bách, vừa mang tính lâu dài; kết hợp hài hòa giữa kế thừa, ổn định với đổi mới, phát triển và phải đặt trong mối tương quan với đổi mới, phát triển các chính sách xã hội khác, nhất là chế độ tiền lương, thu nhập, trợ giúp xã hội để mọi công dân đều được bảo đảm an sinh xã hội.
Bốn là, phát triển hệ thống tổ chức thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội chuyên nghiệp, hiện đại và hội nhập quốc tế, củng cố niềm tin, sự hấp dẫn và hài lòng của người dân cũng như các chủ thể tham gia bảo hiểm xã hội.
Năm là, thực hiện tốt chính sách bảo hiểm xã hội là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, là trách nhiệm của các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể, tổ chức xã hội, doanh nghiệp và của mỗi người dân.
Căn cứ vào các quan điểm chỉ đạo nêu trên, mục tiêu tổng quát trong cải cách chính sách bảo hiểm xã hội của nước ta trong thời gian tới được xác định là: bảo hiểm xã hội thực sự thành trụ cột chính của hệ thống an sinh xã hội, từng bước mở rộng vững chắc tiến tới thực hiện bảo hiểm xã hội toàn dân. Phát triển hệ thống bảo hiểm xã hội linh hoạt, đa dạng, đa tầng, hiện đại và hội nhập quốc tế theo nguyên tắc đóng - hưởng, công bằng, bình đẳng, chia sẻ và bền vững. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội tinh gọn, chuyên nghiệp, hiện đại, hiệu quả, tin cậy và minh bạch.
Mục tiêu tổng quát này cần được cụ thể hóa thành các mục tiêu với lộ trình thực hiện cụ thể: 1- Giai đoạn đến năm 2021, phấn đấu có khoảng 35% lực lượng lao động trong độ tuổi tham gia bảo hiểm xã hội; đến năm 2025 có khoảng 45% và đến năm 2030 có khoảng 60%. 2- Giai đoạn đến năm 2021, phấn đấu có khoảng 45% số người sau độ tuổi nghỉ hưu được hưởng lương hưu, bảo hiểm xã hội hằng tháng và trợ cấp xã hội (lương hưu xã hội); đến năm 2025 có khoảng 55% và đến năm 2030 có khoảng 60%. 3- Giai đoạn đến năm 2021, tỷ lệ giao dịch điện tử đạt 100%. Thực hiện dịch vụ công trực tuyến mức độ 4. Phấn đấu giảm số giờ giao dịch giữa cơ quan bảo hiểm xã hội với doanh nghiệp bằng mức của các nước ASEAN 4. 4- Giai đoạn đến năm 2021, phấn đấu chỉ số đánh giá mức độ hài lòng của người tham gia bảo hiểm xã hội đạt mức 80%; đến năm 2025 đạt mức 85% và đến 2030 đạt mức 90%.
Qua tổng kết lý luận và thực tiễn phát triển bảo hiểm xã hội ở nước ta từ năm 1995 đến nay; kết quả nghiên cứu khảo sát sâu rộng ở trong nước và ngoài nước với sự tham gia góp ý của nhiều cơ quan, đơn vị, tổ chức, chuyên gia, nhà khoa học trong nước và quốc tế đã làm rõ những nội dung cơ bản về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội của nước ta trong thời gian tới, gồm: 1- Xây dựng hệ thống bảo hiểm xã hội đa tầng. 2- Sửa đổi quy định về điều kiện thời gian tham gia bảo hiểm xã hội tối thiểu để hưởng hưu trí theo hướng linh hoạt đồng thời với việc điều chỉnh công thức tính lương hưu theo nguyên tắc đóng - hưởng, công bằng, bình đẳng, chia sẻ và bền vững. Mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc sang các nhóm đối tượng khác. 3- Tăng cường sự liên kết, hỗ trợ giữa các chính sách bảo hiểm xã hội cũng như tính linh hoạt của các chính sách, nhằm đạt được mục tiêu mở rộng diện bao phủ. 4- Cải cách trong xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách nhằm củng cố niềm tin, tăng mức độ hài lòng của người tham gia hệ thống bảo hiểm xã hội. 5- Đẩy nhanh quá trình gia tăng số lao động tham gia bảo hiểm xã hội trong khu vực phi chính thức. 6- Sửa đổi, khắc phục các bất hợp lý về chế độ bảo hiểm hưu trí hiện nay theo hướng linh hoạt hơn về điều kiện hưởng chế độ hưu trí, chặt chẽ hơn trong quy định hưởng chế độ bảo hiểm xã hội một lần, tăng tuổi nghỉ hưu bình quân thực tế của người lao động. 7- Thực hiện điều chỉnh tăng tuổi nghỉ hưu theo lộ trình. 8- Sửa đổi các quy định về mức đóng, căn cứ đóng bảo hiểm xã hội để đạt mục tiêu mở rộng diện bao phủ bảo hiểm xã hội. 9- Điều chỉnh tỷ lệ tích lũy để đạt tỷ lệ hưởng lương hưu tối đa phù hợp thông lệ quốc tế. 10- Đa dạng hóa danh mục, cơ cấu đầu tư Quỹ Bảo hiểm xã hội theo nguyên tắc an toàn, bền vững, hiệu quả. 11- Thực hiện điều chỉnh lương hưu độc lập tương đối trong mối tương quan với tiền lương của người đang làm việc, thay đổi cách thức điều chỉnh lương hưu theo hướng chia sẻ.
Để nâng cao hiệu quả chính sách bảo hiểm xã hội ở nước ta trong điều kiện mới
Căn cứ vào các nội dung cơ bản về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội của nước ta và để đạt được các mục tiêu nêu trên, trong những năm tới, cần thực thiện các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm sau:
Thứ nhất, tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác thông tin, tuyên truyền, nâng cao nhận thức về chính sách bảo hiểm xã hội.
Tăng cường vai trò, trách nhiệm của các cấp ủy đảng, chính quyền trong công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về bảo hiểm xã hội, để cán bộ, đảng viên, Nhân dân thấy rõ vai trò, ý nghĩa của chính sách bảo hiểm xã hội đối với việc ổn định đời sống Nhân dân, ổn định kinh tế - xã hội và bảo đảm an sinh xã hội; sự cần thiết và những nội dung cơ bản của cải cách chính sách bảo hiểm xã hội, tạo sự đồng thuận xã hội.
Thứ hai, hoàn thiện hệ thống pháp luật về lao động, việc làm, bảo hiểm xã hội.
Thể chế hóa các chủ trương và hoàn thiện chính sách, pháp luật về bảo hiểm xã hội phải kết hợp với hoàn thiện chính sách, pháp luật về chế độ tiền lương, việc làm, chính sách đối với người có công với cách mạng và chính sách, pháp luật trong các lĩnh vực có liên quan khác.
Sửa đổi, bổ sung pháp luật về bảo hiểm xã hội theo hướng tiến tới thực hiện bảo hiểm xã hội toàn dân; thiết kế hệ thống bảo hiểm xã hội đa tầng; hoàn thiện các quy định về đóng - hưởng bảo hiểm xã hội, bảo đảm các nguyên tắc công bằng, bình đẳng, chia sẻ và bền vững. Rà soát, sửa đổi các quy định về người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài, người nước ngoài đến làm việc tại Việt Nam tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, gắn với việc đẩy mạnh đàm phán, ký kết hiệp định song phương về bảo hiểm xã hội.
Sửa đổi, bổ sung chính sách bảo hiểm thất nghiệp, chính sách việc làm theo hướng hỗ trợ doanh nghiệp và người lao động duy trì việc làm, bảo đảm quyền lợi chính đáng của doanh nghiệp và người lao động, khắc phục tình trạng gian lận, trục lợi bảo hiểm thất nghiệp. Có quy định cụ thể và cơ chế quản lý chặt chẽ việc đầu tư Quỹ Bảo hiểm xã hội, bảo đảm việc đầu tư Quỹ Bảo hiểm xã hội an toàn, bền vững, hiệu quả.
Hoàn thiện các chế tài xử lý vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội, nhất là đối với các hành vi trốn đóng, nợ đóng, trục lợi bảo hiểm xã hội, theo hướng cơ quan quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội và cơ quan quản lý Quỹ Bảo hiểm xã hội có thẩm quyền xử phạt các doanh nghiệp trốn đóng, nợ đóng, gian lận, trục lợi bảo hiểm xã hội; đồng thời, người sử dụng lao động và người lao động có quyền khiếu nại, hoặc khởi kiện cơ quan quản lý nhà nước và cơ quan quản lý Quỹ Bảo hiểm xã hội nếu phát hiện có sai phạm trong thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội.
Thứ ba, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội.
Nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội, nhất là trong việc hoạch định chiến lược phát triển, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo hiểm xã hội. Tăng cường sự phối hợp giữa các cấp, các ngành và địa phương trong lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội, kịp thời xử lý những khó khăn, vướng mắc phát sinh.
Nâng cao tính tuân thủ pháp luật về bảo hiểm xã hội thông qua thực hiện đồng bộ các biện pháp hành chính, kinh tế, tư pháp để tăng số người tham gia bảo hiểm xã hội, đi đôi với chú trọng tăng số người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm xã hội, đặc biệt là chế độ hưu trí. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc chấp hành pháp luật về bảo hiểm xã hội, kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm các vi phạm, nhất là các hành vi trốn đóng, nợ đóng, gian lận, trục lợi tiền bảo hiểm xã hội.
Sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật để đẩy mạnh việc phân cấp cho các cơ quan bảo hiểm xã hội; thực hiện giao chỉ tiêu phát triển đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội cho các địa phương; phân định rõ quản lý nhà nước với quản trị bộ máy tổ chức thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội.
Tăng cường công tác phối hợp, chia sẻ, kết nối thông tin, dữ liệu giữa cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư, tài chính, thuế, lao động để nâng cao hiệu quả quản lý đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội và thực thi chính sách bảo hiểm xã hội. Nâng cao năng lực và hiệu quả công tác nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn về bảo hiểm xã hội. Xây dựng cơ sở dữ liệu về bảo hiểm xã hội, bộ tiêu chí đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ và chất lượng cung ứng dịch vụ của cơ quan bảo hiểm xã hội.
Thứ tư, nâng cao năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp.
Hoàn thiện bộ máy tổ chức thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp theo đúng tinh thần Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”. Kiện toàn và nâng cao năng lực hoạt động của Hội đồng Quản lý bảo hiểm xã hội. Thực hiện chế độ tài chính, kế toán, kiểm toán và thông tin báo cáo về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật.
Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, thực hiện dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 trên tất cả các lĩnh vực bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp; hoàn thiện, đẩy mạnh kết nối cơ sở dữ liệu quốc gia về bảo hiểm với các hệ thống cơ sở dữ liệu có liên quan nhằm phục vụ tốt công tác thực hiện chính sách và công tác nghiên cứu, hoạch định chính sách. Tiếp tục hiện đại hóa quản lý bảo hiểm xã hội, đầu tư phát triển công nghệ và phương pháp quản lý tiên tiến trong tổ chức thực hiện bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp. Kịp thời ngăn chặn tình trạng gian lận, trục lợi chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp.
Triển khai có hiệu quả các chính sách bảo hiểm thất nghiệp, phát huy đầy đủ các chức năng của bảo hiểm thất nghiệp, bảo đảm bảo hiểm thất nghiệp thực sự là công cụ quản trị thị trường lao động. Chi phí tổ chức thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp lấy từ nguồn Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp, không lấy từ ngân sách nhà nước. Có cơ chế tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ, nhất là trong bối cảnh thị trường lao động biến động nhanh chóng và cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã và đang làm biến đổi cấu trúc của thị trường lao động.
Thứ năm, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, phát huy vai trò của Nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội.
Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong hoạch định chính sách và tổ chức thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa, đặc biệt trong phát triển đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội và tuân thủ pháp luật về bảo hiểm xã hội. Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và Nhân dân trong giám sát, phản biện xã hội, tổ chức tuyên truyền, vận động Nhân dân thực hiện tốt chính sách, pháp luật về bảo hiểm xã hội.
Bảo hiểm xã hội là chính sách lớn của Đảng và Nhà nước, việc cải cách chính sách bảo hiểm xã hội là vấn đề hệ trọng, liên quan trực tiếp đến đời sống Nhân dân. Để hoàn thành được các mục tiêu đã đề ra, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp nêu trên, có sự vào cuộc với quyết tâm cao của cả hệ thống chính trị, nhằm góp phần quan trọng trong thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm ổn định chính trị, trật tự và an toàn xã hội, thúc đẩy sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc./.
GS. TS. Vương Đình Huệ, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Chính phủ

Nguồn: tapchicongsan.org.vn