Công bố chỉ số cải cách hành chính (Par Index)

Thống kê truy cập

Lượt truy cập : 21.239.926

Khách Online : 41

Một Số Đề Xuất Mới (21-3-2022)

11:09 21/03/2022 | Lượt xem : 2482

  • Xem với cỡ chữ T T
  • Inverts
  • Lượt xem : 2482
 * Bộ Xây dựng đang xây dựng dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở giai đoạn 2021 - 2025

* Bộ Công an đang lấy ý kiến góp ý của Nhân dân vào dự thảo Thông tư quy định việc kết nối, chia sẻ, trao đổi thông tin, dữ liệu số với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.


 * Bộ Xây dựng đang xây dựng dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở giai đoạn 2021 - 2025.

Dự thảo nêu rõ: Đối tượng hộ gia đình được hỗ trợ xây dựng nhà ở phải là hộ nghèo theo chuẩn nghèo quy định tại Nghị định số 07/2021/NĐ-CP ngày 27/01/2021 của Chính phủ về quy định chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2021 - 2025, có tên trong danh sách hộ nghèo do Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý tại thời điểm Quyết định này có hiệu lực thi hành và là hộ độc lập có thời gian tách hộ đến khi Quyết định này có hiệu lực thi hành tối thiểu 05 năm.

Điều kiện để được hỗ trợ nhà ở là chưa có nhà ở hoặc đã có nhà ở nhưng nhà ở quá tạm bợ, hư hỏng, dột nát, có nguy cơ sập đổ và không có khả năng tự cải thiện nhà ở; chưa được hỗ trợ nhà ở từ các chương trình, chính sách hỗ trợ của Nhà nước, các tổ chức chính trị xã hội khác.

Trường hợp đã được hỗ trợ nhà ở theo các chương trình, chính sách hỗ trợ nhà ở khác thì phải thuộc các đối tượng sau: Nhà ở đã bị sập đổ hoặc hư hỏng nặng, có nguy cơ sập đổ do thiên tai gây ra như bão, lũ, lụt, động đất, sạt lở đất, hỏa hoạn nhưng chưa có nguồn vốn để sửa chữa, xây dựng lại. Đã được hỗ trợ nhà ở theo các chương trình, chính sách hỗ trợ nhà ở khác có thời gian từ 08 năm trở lên tính đến thời điểm Quyết định này có hiệu lực thi hành nhưng nay nhà ở đã hư hỏng, dột nát, có nguy cơ sụp đổ.

Thực hiện ưu tiên hỗ trợ trước cho các đối tượng theo thứ tự: Hộ gia đình có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn (già cả, neo đơn, tàn tật); hộ gia đình có thành viên là đối tượng bảo trợ xã hội; hộ gia đình thuộc vùng thường xuyên xảy ra thiên tai; hộ gia đình đang sinh sống tại các thôn, bản đặc biệt khó khăn; các hộ gia đình còn lại.

Về mức hỗ trợ, dự thảo đề xuất ngân sách Trung ương hỗ trợ 40 triệu đồng đối với hộ xây mới nhà ở; 20 triệu đồng đối với hộ sửa chữa nhà ở. Đối với các hộ nghèo có đối tượng bảo trợ xã hội thì được hỗ trợ trực tiếp theo mức quy định tại Khoản 1, 3 Điều 15 Nghị định số 20/2021/NĐ-CP ngày 15/3/2021 quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội. Các địa phương có trách nhiệm hỗ trợ thêm ngoài phần ngân sách Trung ương hỗ trợ và huy động cộng đồng giúp đỡ các hộ làm nhà ở.

Hộ gia đình thuộc diện đối tượng theo quy định có nhu cầu vay vốn, được vay tối đa 25 triệu đồng/hộ từ Ngân hàng Chính sách xã hội để xây dựng mới hoặc sửa chữa nhà ở. Lãi suất vay 3%/năm; thời hạn vay là 15 năm, trong đó thời gian ân hạn là 5 năm. Thời gian trả nợ tối đa là 10 năm bắt đầu từ năm thứ 6, mức trả nợ mỗi năm tối thiểu là 10% tổng số vốn đã vay.

* Bộ Công an đang lấy ý kiến góp ý của Nhân dân vào dự thảo Thông tư quy định việc kết nối, chia sẻ, trao đổi thông tin, dữ liệu số với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.

Theo đó, dự thảo Thông tư này hướng dẫn về việc kết nối, chia sẻ, trao đổi thông tin, dữ liệu số giữa Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư với các Cơ sở dữ liệu quốc gia, Cơ sở dữ liệu chuyên ngành do Bộ, ngành, địa phương quản lý và hệ thống Công nghệ thông tin của các tổ chức khác.

Về mô hình kết nối với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, dự thảo nêu rõ, kết nối giữa Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư với Cơ sở dữ liệu quốc gia, Cơ sở dữ liệu chuyên ngành: Qua nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu quốc gia; hạ tầng kết nối, chia sẻ dữ liệu cấp bộ, cấp tỉnh.

Kết nối và chia sẻ dữ liệu dân cư giữa Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư với Cổng dịch vụ công quốc gia, Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính cấp bộ, cấp tỉnh: Qua trục liên thông văn bản quốc gia.

Dữ liệu danh mục dùng chung nhằm thu thập, xử lý, lưu trữ ở dạng điện tử các danh mục dùng chung của các Bộ, ngành, địa phương nhằm nâng cao hiệu quả và tạo sự thống nhất trong việc chia sẻ, trao đổi thông tin gồm: 1. Nhóm máu; 2. Giới tính; 3. Dân tộc; 4. Tôn giáo; 5. Tình trạng hôn nhân; 6. Quốc tịch; 7. Quốc gia; 8. Tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương; 9. Quận/huyện/thị xã; 10. Xã/phường/thị trấn; 11. Quan hệ với chủ hộ.

Công dân thực hiện khai thác thông tin của mình trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư qua dịch vụ nhắn tin theo các bước sau: Bước 1: Truy cập vào ứng dụng tin nhắn trên điện thoại. Bước 2: Soạn tin nhắn tới đầu số…….. với cú pháp:……………… Bước 3: Xem kết quả hiển thị.

Công dân khai thác thông tin của mình trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư không mất phí khai thác thông tin, nhưng phải trả phí sử dụng dịch vụ viễn thông theo quy định của bên cung cấp dịch vụ viễn thông.

Bên cạnh đó, công dân thực hiện khai thác thông tin trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư qua cổng dịch vụ công quốc gia. Có 02 loại tài khoản có thể đăng nhập trên cổng dịch vụ công quốc gia gồm: Tài khoản cấp bởi cổng dịch vụ công quốc gia và tài khoản cấp bởi hệ thống định danh xác thực điện tử.

* Bộ Tài chính đang lấy ý kiến góp ý của Nhân dân vào dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung Thông tư số 338/2016/TT-BTC quy định lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước bảo đảm cho công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật và hoàn thiện hệ thống pháp luật.

Theo dự thảo, định mức chi có tính chất đặc thù, được bảo đảm từ ngân sách nhà nước cho một số nội dung trong các hoạt động xây dựng văn bản quy phạm pháp luật và hoàn thiện hệ thống pháp luật được quy định cụ thể như sau:

Đối với dự án luật, pháp lệnh ban hành mới hoặc thay thế là 6.750.000 đồng/đề cương; Dự án luật, pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều là 5.700.000 đồng/đề cương.

Đối với nghị quyết của Quốc hội, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, nghị quyết liên tịch, nghị định của Chính phủ: Văn bản ban hành mới hoặc thay thế có mức chi 4.500.000 đồng/đề cương; còn văn bản sửa đổi, bổ sung một số điều thì mức chi là 3.450.000 đồng/đề cương.

Đối với quyết định của Thủ tướng Chính phủ, mức chi cho văn bản ban hành mới hoặc thay thế là 3.450.000 đồng/đề cương; văn bản sửa đổi, bổ sung một số điều là 2.250.000 đồng/đề cương.

Đối với dự án luật, pháp lệnh ban hành mới hoặc thay thế: Mức chi 18.000.000 đồng/dự thảo văn bản. Dự án luật, pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều: Mức chi 11.250.000 đồng/dự thảo văn bản.

Đối với nghị quyết của Quốc hội, nghị quyết của ủy ban thường vụ Quốc hội, nghị quyết liên tịch, nghị định của Chính phủ: Mức chi cho văn bản ban hành mới hoặc thay thế là 11.250.000 đồng/dự thảo văn bản; văn bản sửa đổi, bổ sung một số điều là 6.750.000 đồng/dự thảo văn bản.

Đối với quyết định của Thủ tướng Chính phủ: Văn bản ban hành mới hoặc thay thế có mức chi 9.000.000 đồng/dự thảo văn bản; vVăn bản sửa đổi, bổ sung một số điều có mức chi 6.000.000 đồng/dự thảo văn bản.

Đối với thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ: Văn bản ban hành mới hoặc thay thế có mức chi 4.800.000 đồng/dự thảo văn bản; còn văn bản sửa đổi, bổ sung một số điều có mức chi 4.050.000 đồng/dự thảo văn bản…

* Bộ Thông tin và Truyền thông đang lấy ý kiến góp ý của Nhân dân vào dự thảo Thông tư hướng dẫn thực hiện hỗ trợ máy tính bảng và dịch vụ viễn thông công ích kèm theo thuộc Chương trình cung cấp dịch vụ viễn thông công ích đến năm 2025.

Theo đó, dự thảo Thông tư này hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ hỗ trợ máy tính bảng và hỗ trợ sử dụng dịch vụ viễn thông công ích để sử dụng máy tính bảng cho các đối tượng thuộc Chương trình cung cấp dịch vụ viễn thông công ích đến năm 2025 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 2269/QĐ-TTg ngày 31/12/2021.

Nguyên tắc thực hiện hỗ trợ máy tính bảng là mỗi hộ gia đình thuộc đối tượng chỉ được Chương trình hỗ trợ một lần để trang bị máy tính bảng. Đảm bảo đúng đối tượng và theo thứ tự ưu tiên được hỗ trợ trong phạm vi số lượng máy tính bảng thuộc Chương trình. Không trùng lặp với chính sách hỗ trợ thiết bị phục vụ học tập trực tuyến của các Chương trình, đề án khác.

Máy tính bảng phải đáp ứng yêu cầu tối thiểu về kỹ thuật, chất lượng đáp ứng nhu cầu học tập trực tuyến. Đảm bảo công khai, dân chủ tại cơ sở trong việc đề xuất đối tượng cụ thể được nhận hỗ trợ.

Dịch vụ viễn thông công ích được Chương trình hỗ trợ cho các hộ gia đình được sử dụng máy tính bảng là một trong hai dịch vụ viễn thông sau: Dịch vụ truy nhập Internet trên mạng viễn thông di động mặt đất; dịch vụ truy nhập Internet băng rộng cố định mặt đất (dịch vụ truy nhập Internet cáp quang).

Theo dự thảo, hộ gia đình đáp ứng đủ các điều kiện sau đây thuộc đối tượng được hỗ trợ máy tính bảng từ Chương trình: 1. Là hộ nghèo, hộ cận nghèo được cấp có thẩm quyền xác nhận theo quy định của Chính phủ về chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2021 - 2025 và gia đình chính sách xã hội. 2. Có thành viên thuộc hộ đang học tại các cơ sở giáo dục phổ thông. 3. Có nhu cầu nhận hỗ trợ máy tính bảng. 4. Chưa nhận hỗ trợ thiết bị phục vụ việc học tập trực tuyến (máy tính để bàn, máy tính xách tay, máy tính bảng) từ các chương trình, đề án, dự án khác.

Các hộ gia đình được Chương trình hỗ trợ máy tính bảng và dịch vụ viễn thông kèm theo được xác định theo thứ tự ưu tiên về địa bàn cư trú và ưu tiên về hộ gia đình quy định như sau:

Thứ tự ưu tiên về địa bàn cư trú: a) Xã khu vực III; b) Xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang, ven biển và hải đảo; c) Xã đảo, huyện đảo; d) Các xã còn lại.

Thứ tự ưu tiên đối với hộ gia đình: a) Hộ gia đình là hộ nghèo đồng thời là gia đình chính sách xã hội; b) Hộ gia đình là hộ nghèo ngoài các hộ quy định tại điểm a; c) Hộ gia đình là hộ cận nghèo đồng thời là gia đình chính sách xã hội; d) Hộ gia đình là hộ cận nghèo ngoài các hộ quy định tại điểm c; đ) Các hộ thuộc đối tượng hỗ trợ còn lại.

* Bộ Khoa học và Công nghệ đang dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư liên tịch số 12/2016/TTLT/BKHCN-BTC ngày 28/6/2016 hướng dẫn nội dung chi và quản lý Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ.

Theo đó, về nội dung chi của Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ, dự thảo bổ sung Điều 8a hỗ trợ thực hiện các hoạt động theo quy định của Luật Chuyển giao công nghệ.

1. Hỗ trợ doanh nghiệp có dự án thuộc ngành, nghề ưu đãi đầu tư, địa bàn ưu đãi đầu tư nhận chuyển giao công nghệ từ tổ chức khoa học và công nghệ. Việc thực hiện hỗ trợ căn cứ theo các quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Nghị định số 76/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Chuyển giao công nghệ.

2. Đầu tư, đối ứng vốn đầu tư cho khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. Hoạt động đầu tư, đối ứng vốn đầu tư được thực hiện trong lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh chính của doanh nghiệp và tuân theo quy định của Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp, Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa và quy định pháp luật khác có liên quan.

Hoạt động đầu tư, đối ứng vốn đầu tư cho khởi nghiệp đổi mới sáng tạo thực hiện thông qua các hình thức: Góp vốn thành lập doanh nghiệp khởi ngiệp sáng tạo; mua cổ phần, phần vốn góp của doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo; góp vốn vào quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo; hợp tác kinh doanh.

3. Đổi mới công nghệ, ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp khoa học và công nghệ, thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ. Mua quyền sở hữu, quyền sử dụng công nghệ; giống cây trồng, vật nuôi; thiết bị, tài liệu kỹ thuật, thông tin sở hữu trí tuệ; mua phần mềm phục vụ nghiên cứu, thiết kế, mô phỏng; nhập khẩu công nghệ, máy móc thiết bị, sản phẩm mẫu để nghiên cứu, làm chủ, phát triển và tạo ra công nghệ theo hợp đồng đã ký kết.

Thuê chuyên gia tìm kiếm thông tin về công nghệ, bí quyết công nghệ; thực hiện nội dung đánh giá, định giá công nghệ; nghiên cứu, đổi mới, hoàn thiện các quy trình công nghệ, giải pháp khoa học và công nghệ; thử nghiệm, phân tích, kiểm tra, đánh giá chất lượng sản phẩm đến khi hoàn thành sản phẩm lô số không; mua vật tư nguyên liệu, nhiên liệu, thiết bị đo kiểm, phân tích trong quá trình thử nghiệm và sản xuất sản phẩm lô số không của dây chuyền công nghệ.

4. Giải mã công nghệ, đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật cho hoạt động giải mã công nghệ. Đầu tư cơ sở vật chất, kỹ thuật cho hoạt động giải mã công nghệ gồm: Đầu tư cho phòng thí nghiệm, phân tích mẫu, mô hình hóa và mô phỏng, kiểm chuẩn, xưởng chế thử, kiểm nghiệm và tạo mẫu. Hoạt động giải mã công nghệ được thực hiện với các nội dung chi như các nhiệm vụ khoa học và công nghệ của doanh nghiệp và bổ sung các nội dung chi có tính đặc thù.

5. Thuê tổ chức, cá nhân trong nước, ngoài nước để tư vấn, quản lý hoạt động đầu tư của quỹ phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp theo hợp đồng giữa các bên.

6. Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực hấp thụ, làm chủ công nghệ của doanh nghiệp bao gồm: Đào tạo về quản lý công nghệ, quản trị công nghệ, cập nhật công nghệ mới, tìm kiếm công nghệ; đàm phán và chuyển giao công nghệ; kỹ năng vận hành, khai thác hiệu quả các công nghệ; thích nghi, cải tiến công nghệ, giải mã công nghệ; bồi dưỡng chuyên sâu về thiết kế, phát triển sản phẩm dựa trên công nghệ và nội dung khác phù hợp với tình hình phát triển kinh tế-xã hội.

* Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đang lấy ý kiến góp ý của Nhân dân vào dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ quy định về trình tự, thủ tục chấp thuận cho Tổ chức kinh tế cho vay ra nước ngoài, bảo lãnh cho người không cư trú.

Theo đó, dự thảo quy định cụ thể về thẩm quyền chấp thuận cho Tổ chức kinh tế cho vay ra nước ngoài, bảo lãnh cho người không cư trú. 

Theo đó, Thủ tướng Chính phủ xem xét, chấp thuận về nguyên tắc đối với đề nghị của Tổ chức kinh tế về việc: a) Cho vay ra nước ngoài, bảo lãnh cho người không cư trú không gắn với các dự án đầu tư ra nước ngoài; Việc cho vay ra nước ngoài, bảo lãnh cho người không cư trú gắn với các dự án đầu tư ra nước ngoài thuộc diện phải chấp thuận chủ trương đầu tư ra nước ngoài (bao gồm cả trường hợp tăng hạn mức cho vay ra nước ngoài, hạn mức bảo lãnh cho người không cư trú làm tăng quy mô dự án đầu tư ra nước ngoài dẫn đến việc dự án đầu tư thuộc diện phải được chấp thuận chủ trương đầu tư ra nước ngoài). Các nội dung chính được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận về nguyên tắc bao gồm: Bên đi vay, Bên được bảo lãnh; Hạn mức cho vay, bảo lãnh. b) Thay đổi Bên đi vay, Bên được bảo lãnh; tăng hạn mức cho vay, tăng hạn mức bảo lãnh của khoản cho vay ra nước ngoài, khoản bảo lãnh cho người không cư trú ban đầu đã được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận nguyên tắc.

Dự thảo cũng nêu rõ, Thủ tướng Chính phủ giao Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan xem xét, chấp thuận việc Tổ chức kinh tế cho vay ra nước ngoài, bảo lãnh cho người không cư trú gắn với dự án đầu tư ra nước ngoài không thuộc diện phải chấp thuận chủ trương đầu tư theo quy định. Nội dung chính được Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư chấp thuận về nguyên tắc bao gồm hạn mức cho vay, hạn mức bảo lãnh.

Các Bộ, cơ quan ngang Bộ và các cơ quan khác tham gia thẩm định đề nghị cho vay ra nước ngoài, bảo lãnh cho người không cư trú của Tổ chức kinh tế trong phạm vi lĩnh vực quản lý nhà nước theo quy định và chịu trách nhiệm về nội dung thẩm định thuộc chức năng, nhiệm vụ của mình.

Theo dự thảo, trình tự, thủ tục chấp thuận việc cho vay ra nước ngoài, bảo lãnh cho người không cư trú của Tổ chức kinh tế không gắn với dự án đầu tư ra nước ngoài như sau: 1. Tổ chức kinh tế lập 04 bộ hồ sơ (trong đó có 01 bộ hồ sơ gốc) đề nghị Thủ tướng Chính phủ chấp thuận cho vay ra nước ngoài, bảo lãnh cho người không cư trú và gửi hồ sơ qua đường bưu điện hoặc nộp trực tiếp tại Cơ quan đầu mối (Ngân hàng Nhà nước). 2. Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ: Trường hợp các thành phần hồ sơ của Tổ chức kinh tế chưa đầy đủ, hợp lệ, Ngân hàng Nhà nước có văn bản yêu cầu bổ sung, cung cấp thông tin và tài liệu có liên quan; trường hợp hồ sơ đầy đủ, hợp lệ, Ngân hàng Nhà nước gửi hồ sơ của Tổ chức kinh tế đến các Bộ ngành, cơ quan có liên quan (gọi là "Cơ quan phối hợp") đề nghị tham gia ý kiến thẩm định. 3. Trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản lấy ý kiến hoặc kể từ ngày nhận được hồ sơ đầy đủ, hợp lệ, Cơ quan phối hợp có ý kiến thẩm định bằng văn bản về những nội dung thuộc phạm vi quản lý nhà nước của mình và nội dung được phân công gửi Ngân hàng Nhà nước theo quy định. 4. Trong thời hạn 30 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đầy đủ ý kiến thẩm định của các Cơ quan phối hợp và các hồ sơ giải trình, bổ sung có liên quan, Ngân hàng Nhà nước tổ chức thẩm định, lập báo cáo thẩm định, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định theo thẩm quyền. 5. Trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo thẩm định của Ngân hàng Nhà nước, Thủ tướng Chính phủ thông báo cho Ngân hàng Nhà nước ý kiến chấp thuận hoặc không chấp thuận việc Tổ chức kinh tế cho vay ra nước ngoài, bảo lãnh cho người không cư trú không gắn với dự án đầu tư ra nước ngoài. 6. Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được ý kiến của Thủ tướng Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước có văn bản thông báo cho Tổ chức kinh tế ý kiến chấp thuận hoặc không chấp thuận của Thủ tướng Chính phủ đối với đề nghị cho vay ra nước ngoài, bảo lãnh cho người không cư trú không gắn với dự án đầu tư ra nước ngoài của tổ chức kinh tế, đồng thời sao gửi các Cơ quan phối hợp để nắm thông tin, phối hợp quản lý. 7. Trường hợp cần bổ sung, làm rõ thông tin tại hồ sơ theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước chủ trì, phối hợp với Cơ quan phối hợp theo quy trình bổ sung hồ sơ quy định để nghiên cứu, triển khai chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ. 8. Khi được yêu cầu bổ sung, làm rõ thông tin tại hồ sơ theo đúng quy định của pháp luật, Tổ chức kinh tế có trách nhiệm cung cấp thông tin trong thời hạn 3 tháng kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu của Ngân hàng Nhà nước hoặc các Cơ quan phối hợp. Quá thời hạn nêu trên mà không nhận được hồ sơ bổ sung của Tổ chức kinh tế, Ngân hàng Nhà nước thông báo việc chấm dứt xem xét đề nghị của Tổ chức kinh tế về việc cho vay ra nước ngoài, bảo lãnh cho người không cư trú.

* Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đang lấy ý kiến góp ý của Nhân dân vào dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về việc kéo dài thời hạn áp dụng Nghị quyết số 42/2017/QH14 về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng.

Ngân hàng Nhà nước cho biết, trải qua gần 05 năm đi vào thực tiễn, các quy định tại Nghị quyết số 42/2017/QH14 về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng đã tạo ra hành lang pháp lý cần thiết cho công tác xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, Công ty TNHH MTV Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam, mang lại những chuyển biến tích cực trong công tác xử lý nợ xấu và góp phần không nhỏ vào kết quả công tác cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2016 - 2020, thể hiện định hướng, chính sách đúng đắn của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, tạo niềm tin đối với hệ thống các tổ chức tín dụng nói riêng và toàn bộ xã hội nói chung đối với công tác xử lý nợ xấu trong nền kinh tế.

Xử lý nợ xấu xác định theo Nghị quyết số 42/2017/QH14 đã đạt kết quả tích cực. Trong đó, xử lý nợ xấu bằng hình thức khách hàng tự nguyện trả nợ tăng mạnh, phản ánh ý thức trả nợ của khách hàng đã cải thiện. Khách hàng chủ động và hợp tác hơn trong việc trả nợ tổ chức tín dụng, hạn chế tình trạng chủ tài sản cố ý chây ỳ, chống đối nhằm kéo dài thời gian xử lý. Các biện pháp, chính sách tại Nghị quyết số 42/2017/QH14 đã góp phần tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc, thúc đẩy sự phối hợp giữa các cá nhân, tổ chức, các cơ quan hữu quan với tổ chức tín dụng trong công tác xử lý nợ xấu, góp phần thúc đẩy việc xử lý nợ xấu được thực hiện một cách nhanh chóng, hiệu quả.

Tuy nhiên, Nghị quyết số 42/2017/QH14là Nghị quyết thí điểm nên hiệu lực chỉ kéo dài 5 năm, đến ngày 15/8/2022, Nghị quyết số 42/2017/QH14 sẽ hết hiệu lực thi hành.

Khi hết hiệu lực thi hành, toàn bộ cơ chế về xử lý nợ xấu theo Nghị quyết số 42/2017/QH14 đang được thực hiện sẽ chấm dứt, việc xử lý nợ xấu của tổ chức tín dụng, Công ty TNHH MTV Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam sẽ thực hiện theo quy định của pháp luật có liên quan, không được ưu tiên áp dụng một số chính sách được quy định tại Nghị quyết số 42/2017/QH14. Thực hiện kết luận của Bộ Chính trị tại Kết luận số 19-KL/TW và Đề án định hướng Chương trình xây dựng pháp luật nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV, Ngân hàng Nhà nước được giao chủ trì nghiên cứu xây dựng Luật xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng. Tuy nhiên, trong thời gian xây dựng Luật xử lý nợ xấu, việc không tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 42/2017/QH14 sẽ dẫn đến không còn hành lang pháp lý cho cơ chế xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng, Công ty TNHH MTV Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam.

Do vậy, để tiếp tục thể chế hóa chủ trương chính sách của Đảng, tiếp tục khắc phục những khó khăn, hạn chế trong việc xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng, đặc biệt trong giai đoạn nền kinh tế bị ảnh hưởng bởi đại dịch COVID-19, thì việc kéo dài thời hạn áp dụng Nghị quyết số 42/2017/QH14 về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng là thực sự cần thiết.

Theo đó, dự thảo Nghị quyết đề xuất: Kéo dài thời hạn áp dụng Nghị quyết số 42/2017/QH14 đến ngày 15/8/2025.

Chính phủ có trách nhiệm nghiên cứu, đề xuất xây dựng Luật về xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng trong thời gian kéo dài thời hạn áp dụng Nghị quyết số 42/2017/QH14.

Nguồn: baochinhphu.vn